Thực trạng vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động hiện nay

(Mặt trận) - Những năm gần đây, yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường đồng thuận xã hội, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi số và chuẩn bị Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031 đang đặt ra đòi hỏi mới đối với chất lượng chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Trong bối cảnh đó, chương trình hành động của Mặt trận càng phải được xây dựng và thực hiện trên cơ sở hiệp thương thực chất, bảo đảm bám sát định hướng của Đảng, yêu cầu của pháp luật và tình hình thực tiễn.

Báo cáo Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam trình bày một số nội dung chủ yếu tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi tới Kỳ họp thứ nhất

MTTQ Việt Nam qua các kỳ Đại hội: ĐẠI HỘI MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM LẦN THỨ I (1977-1983)

 Đại biểu tham dự Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam biểu quyết tại Hội nghị

Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu; đồng thời là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước [1]. Từ vị trí đó, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động trở thành phương thức hoạt động đặc thù, thể hiện rõ vai trò nòng cốt chính trị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong việc tập hợp ý chí, điều hòa quan hệ phối hợp giữa các tổ chức thành viên và tạo cơ sở đồng thuận để triển khai nhiệm vụ chung.

Những năm gần đây, yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường đồng thuận xã hội, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đẩy mạnh chuyển đổi số và chuẩn bị Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031 đang đặt ra đòi hỏi mới đối với chất lượng chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Trong bối cảnh đó, chương trình hành động của Mặt trận càng phải được xây dựng và thực hiện trên cơ sở hiệp thương thực chất, bảo đảm bám sát định hướng của Đảng, yêu cầu của pháp luật và tình hình thực tiễn. Thực tiễn 5 năm gần đây cho thấy vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã có nhiều chuyển biến tích cực; tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như chất lượng thống nhất hành động chưa đồng đều, ở một số nơi hiệp thương còn biểu hiện hình thức, trách nhiệm phối hợp của một số tổ chức thành viên chưa thật sự rõ. Vì vậy, việc nhận diện đúng thực trạng của hoạt động này có ý nghĩa thiết thực đối với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận trong giai đoạn mới.

1. THỰC TRẠNG CHỦ TRÌ HIỆP THƯƠNG TRONG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

Trong thời gian qua, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò chủ trì trong tổ chức hiệp thương xây dựng chương trình hành động của Mặt trận theo nhiệm kỳ, theo năm và theo các nhiệm vụ trọng tâm. Việc xây dựng chương trình hành động nhìn chung đã bám sát nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước và địa phương; đồng thời gắn với yêu cầu thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, đẩy mạnh giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị. Điểm tích cực là chương trình hành động ngày càng không chỉ dừng ở việc liệt kê đầu việc, mà chú ý hơn đến việc xác định trọng tâm, lựa chọn nội dung phối hợp có ý nghĩa thiết thực đối với đoàn viên, hội viên và Nhân dân.

Ở cấp Trung ương, công tác hiệp thương trong xây dựng chương trình hành động được thực hiện khá nền nếp, phát huy tốt hơn vai trò của hội đồng tư vấn, ban tư vấn, các tổ chức thành viên, chuyên gia và cán bộ thực tiễn. Nhiều nội dung lớn như phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, chuyển đổi số, đối ngoại nhân dân, củng cố tổ chức bộ máy, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động đã được xác định rõ hơn trong dự thảo văn kiện và chương trình hành động nhiệm kỳ mới [2]. Ở cấp tỉnh, cấp cơ sở, nhiều nơi cũng quan tâm hơn tới việc lựa chọn nội dung hoạt động sát với yêu cầu của địa bàn, hướng mạnh về cơ sở, gần dân, sát dân, đồng hành cùng Nhân dân; chú trọng các vấn đề như an sinh xã hội, môi trường, an ninh, trật tự, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh và phát huy tự quản cộng đồng.

Tuy nhiên, ở một số nơi việc hiệp thương xây dựng chương trình hành động vẫn còn nặng về thủ tục, bảo đảm quy trình nhiều hơn là trao đổi, bàn bạc thực chất. Có hiện tượng dự thảo chương trình được chuẩn bị khá hoàn chỉnh trước khi đưa ra hiệp thương, khiến không gian thảo luận, phản biện và bổ sung sáng kiến của các tổ chức thành viên còn hẹp. Một số chương trình hành động còn dàn trải, chưa thật rõ trọng tâm, trọng điểm, chưa xác định đầy đủ những nội dung cần phối hợp liên ngành, liên tổ chức, cũng như chưa lượng hóa rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Hạn chế này bắt nguồn từ cả nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện: ở một số nơi vẫn còn coi chương trình hành động chủ yếu là văn bản công tác của cơ quan Mặt trận; năng lực tham mưu, tổng hợp, điều hòa và dẫn dắt thảo luận hiệp thương chưa theo kịp yêu cầu mới; trong khi quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi số cũng tạo thêm áp lực đối với công tác tham mưu hiệp thương.

2. THỰC TRẠNG CHỦ TRÌ HIỆP THƯƠNG TRONG PHỐI HỢP VÀ THỐNG NHẤT HÀNH ĐỘNG

Nếu xây dựng chương trình hành động là bước xác lập định hướng, thì phối hợp và thống nhất hành động là thước đo quan trọng nhất của vai trò chủ trì hiệp thương. Trong 5 năm gần đây, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã có nhiều cố gắng trong điều hòa, kết nối, phối hợp giữa các tổ chức thành viên, giữa Mặt trận với cơ quan nhà nước cùng cấp và với các lực lượng xã hội có liên quan. Nhiều chương trình phối hợp được triển khai đồng bộ hơn; việc xác định “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm” từng bước được chú trọng; vai trò chủ trì của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng vai trò chủ động phối hợp của các tổ chức thành viên được nhấn mạnh hơn trong đổi mới phương thức hoạt động.

Kết quả rõ nét trước hết là trong công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp Nhân dân. Mặt trận và các tổ chức thành viên đã phối hợp tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ ở cơ sở, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi số. Một kết quả quan trọng khác là hiệp thương đã góp phần phát huy thế mạnh riêng của từng tổ chức thành viên trong thực hiện mục tiêu chung của Mặt trận. Các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc, kiều bào, trí thức, doanh nhân… ngày càng có điều kiện thể hiện vai trò của mình trong các chương trình phối hợp, qua đó vừa bảo đảm tính liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của Mặt trận, vừa tôn trọng tính độc lập tương đối của từng tổ chức thành viên.

Tuy nhiên, hạn chế nổi lên là chất lượng thống nhất hành động chưa đồng đều và chưa thật sự tương xứng với yêu cầu. Có nơi việc phối hợp còn theo từng đợt, từng sự kiện, thiếu tính thường xuyên và chiều sâu. Có nơi hiệp thương đã được tổ chức nhưng sau hiệp thương, việc triển khai vẫn thiên về từng tổ chức tự thực hiện phần việc của mình, thiếu cơ chế phối hợp liên thông, thiếu theo dõi cam kết và thiếu phản hồi chung. Trong một số trường hợp, nội dung phối hợp còn chung, chưa chuyển hóa thành nhiệm vụ cụ thể có thể kiểm tra và đánh giá kết quả. Mức độ tham gia của các tổ chức thành viên cũng còn chênh lệch; có tổ chức rất chủ động, nhưng cũng có tổ chức tham gia còn hình thức, ít đề xuất, ít cam kết cụ thể. Nguyên nhân chủ yếu là cơ chế phối hợp chưa thật cụ thể; năng lực cán bộ và điều kiện hoạt động giữa các chủ thể không đồng đều; trong khi ở một số nơi vẫn còn biểu hiện hành chính hóa, chưa coi hiệp thương là không gian dân chủ để trao đổi, thuyết phục và đi tới đồng thuận.

3. THỰC TRẠNG CHỦ TRÌ HIỆP THƯƠNG TRONG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG TRỌNG TÂM CỦA CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

Vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp được thể hiện khá rõ trong tổ chức thực hiện các nội dung trọng tâm của chương trình hành động. Trước hết, trong lĩnh vực thực hiện dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, Mặt trận các cấp đã chủ trì hiệp thương để lựa chọn nội dung giám sát, phản biện xã hội, tổ chức góp ý vào dự thảo chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án, chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, nhất là những nội dung tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của Nhân dân. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội nhìn chung có chuyển biến tích cực; nhiều hội nghị phản biện, tham vấn, đối thoại được tổ chức; nhiều ý kiến phản biện được cơ quan có thẩm quyền tiếp thu trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách.

Đối với các cuộc vận động và phong trào thi đua yêu nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã chú trọng hiệp thương để lồng ghép, phối hợp triển khai theo hướng giảm chồng chéo, tăng tính liên kết giữa các chủ thể và gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương. Có thể thấy rõ điều này trong các hoạt động an sinh xã hội, chăm lo người nghèo, người có công, người yếu thế, hỗ trợ thiên tai, bảo vệ môi trường, xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc, “Bình dân học vụ số”, học tập suốt đời và phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư. Trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân và vận động người Việt Nam ở nước ngoài, vai trò hiệp thương cũng ngày càng rõ hơn thông qua sự phối hợp với cơ quan chức năng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, các cá nhân tiêu biểu để mở rộng mạng lưới kết nối, động viên nguồn lực xã hội và phát huy vai trò cầu nối của trí thức, doanh nhân, kiều bào.

Tuy nhiên, khi đi vào khâu tổ chức thực hiện, những hạn chế của công tác hiệp thương cũng bộc lộ rõ. Ở một số nơi, hiệp thương chưa gắn chặt với cơ chế phân công, theo dõi và đánh giá trong quá trình thực hiện; vì vậy sau hiệp thương, nhiều việc vẫn phụ thuộc vào sự chủ động riêng lẻ của từng tổ chức hoặc từng cán bộ phụ trách. Chất lượng chuyển hóa từ hiệp thương sang kế hoạch thực hiện cụ thể, có tiến độ, có tiêu chí đầu ra còn hạn chế. Trong nhiều nội dung, nhất là giám sát và phản biện xã hội, tuy số lượng hoạt động tăng nhưng chiều sâu của một số hoạt động chưa cao; tính theo dõi đến cùng và đôn đốc việc tiếp thu, giải quyết kiến nghị còn có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu là vai trò chủ trì hiệp thương ở một số nơi mới được nhấn mạnh ở khâu đầu vào, nhưng chưa được thể chế hóa thành cơ chế vận hành xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện; đồng thời sự chênh lệch về nguồn lực, điều kiện cơ sở vật chất, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và năng lực đội ngũ cán bộ giữa các cấp, các vùng, các địa phương làm cho khả năng tổ chức thực hiện sau hiệp thương chưa đồng đều.

4. THỰC TRẠNG CHỦ TRÌ HIỆP THƯƠNG TRONG KIỂM TRA, GIÁM SÁT, SƠ KẾT, TỔNG KẾT VÀ ĐIỀU CHỈNH CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG

Một biểu hiện quan trọng của vai trò chủ trì hiệp thương là khả năng theo dõi, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và điều chỉnh chương trình hành động. Những năm gần đây, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã quan tâm hơn đến việc theo dõi kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động; chú trọng sơ kết, tổng kết từng nội dung, từng phong trào để rút kinh nghiệm, biểu dương mô hình hay và điều chỉnh phương thức tổ chức thực hiện. Việc tổ chức hội nghị chuyên đề, hội thảo, tọa đàm, đánh giá mô hình, thi đua khen thưởng… đã góp phần nâng cao chất lượng điều hành và tạo sức lan tỏa cho hoạt động của hệ thống Mặt trận.

Ở cấp Trung ương, việc đánh giá kết quả thực hiện chương trình hành động ngày càng gắn với tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận và chuẩn bị văn kiện cho nhiệm kỳ mới. Ở địa phương và cơ sở, việc sơ kết, tổng kết các phong trào, cuộc vận động, các nội dung phối hợp cũng góp phần nhận diện rõ hơn mặt mạnh, mặt yếu, phát hiện mô hình hay, cách làm sáng tạo và chấn chỉnh những biểu hiện hình thức, dàn trải. Tuy nhiên, hạn chế đáng chú ý là công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết ở không ít nơi vẫn còn nặng về báo cáo hành chính, thiếu tiêu chí đánh giá chiều sâu của hiệp thương và chất lượng phối hợp. Chưa có bộ chỉ báo thống nhất để đánh giá mức độ thực chất của hiệp thương, mức độ tham gia của tổ chức thành viên, mức độ tiếp thu ý kiến và mức độ chuyển hóa cam kết phối hợp thành kết quả cụ thể. Vì vậy, việc so sánh, đối chiếu, nhân rộng mô hình hiệu quả hoặc phát hiện sớm điểm nghẽn còn gặp khó khăn.

Việc điều chỉnh chương trình hành động sau sơ kết, tổng kết ở một số nơi cũng chưa thật sự linh hoạt. Có nơi đã phát hiện vấn đề nhưng chưa kịp thời điều chỉnh mục tiêu, phương thức hoặc cơ chế phối hợp; có nơi nhận diện rõ tình trạng hình thức, chồng chéo, dàn trải nhưng thay đổi vẫn chậm. Nguyên nhân của tình trạng đó là do hệ thống quy định về hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động tuy đã có cơ sở chính trị – pháp lý tương đối rõ, nhưng vẫn thiếu quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá, quy trình giám sát, chế độ phản hồi và cơ chế xử lý trách nhiệm phối hợp trong toàn bộ chu trình thực hiện chương trình hành động. Cùng với đó, chuyển đổi số trong quản trị công việc, lưu trữ dữ liệu, theo dõi cam kết và đánh giá kết quả còn chưa đồng đều; đội ngũ cán bộ ở cơ sở nhiều nơi còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều việc, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm tra, giám sát, sơ kết và tổng kết.

5. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Từ những phân tích trên có thể thấy, trong 5 năm gần đây, vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong thực hiện chương trình hành động đã có nhiều chuyển biến tích cực và ngày càng được khẳng định rõ hơn cả về phương diện nhận thức, thể chế và thực tiễn tổ chức thực hiện. Hoạt động hiệp thương được triển khai tương đối đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở; phạm vi hiệp thương không chỉ dừng ở xây dựng văn bản chương trình hành động mà đã mở rộng sang lựa chọn trọng tâm công tác, tổ chức phối hợp, triển khai các nội dung lớn, giám sát, phản biện xã hội, sơ kết, tổng kết và điều chỉnh phương thức hoạt động. Vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận được thể hiện ngày càng rõ hơn trong việc phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, tập hợp và phát huy sức mạnh của các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, kiều bào và các tổ chức thành viên vào thực hiện nhiệm vụ chung của đất nước và địa phương [3]. Điều đó càng làm nổi bật yêu cầu nâng cao thực chất của hiệp thương ở tất cả các cấp.

Tuy vậy, những hạn chế nổi lên hiện nay vẫn cần được nhìn nhận đầy đủ, khách quan. Đó là: chất lượng thống nhất hành động chưa cao và chưa đồng đều giữa các cấp; ở một số nơi hiệp thương còn biểu hiện hình thức; trách nhiệm tham gia phối hợp của một số tổ chức thành viên chưa thật sự rõ; cơ chế chuyển hóa kết quả hiệp thương thành chương trình phối hợp cụ thể, có kiểm tra, đôn đốc và đánh giá còn hạn chế; công tác sơ kết, tổng kết ở không ít nơi vẫn nặng về báo cáo, thiếu tiêu chí đánh giá chiều sâu. Những hạn chế này cho thấy khoảng cách nhất định giữa vị trí, vai trò đã được khẳng định về mặt chính trị – pháp lý với hiệu quả thực hiện trong thực tiễn. Nguyên nhân của những hạn chế trên là tổng hợp của nhiều yếu tố: nhận thức chưa đầy đủ về bản chất và ý nghĩa của vai trò chủ trì hiệp thương; thể chế và cơ chế phối hợp chưa thật cụ thể; năng lực đội ngũ cán bộ và điều kiện tổ chức thực hiện còn khác nhau; tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy và thay đổi mô hình vận hành; mức độ ứng dụng công nghệ số trong quản trị hoạt động Mặt trận còn chưa đồng đều. Đồng thời, đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để tiếp tục hoàn thiện quy trình hiệp thương, nâng cao trách nhiệm phối hợp của các tổ chức thành viên và đổi mới công cụ theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện chương trình hành động.

Vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong thực hiện chương trình hành động là một biểu hiện tập trung của vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận trong hệ thống chính trị nước ta. Thông qua hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã góp phần tập hợp ý chí, phát huy trí tuệ, điều hòa quan hệ phối hợp giữa các tổ chức thành viên, mở rộng đồng thuận xã hội và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đất nước, của địa phương theo đúng định hướng của Đảng và quy định của pháp luật.

Thực tiễn 5 năm gần đây cho thấy vai trò đó đã được thể hiện ngày càng rõ hơn trong cả chu trình từ xây dựng chương trình hành động, tổ chức phối hợp thực hiện, triển khai các nội dung trọng tâm, đến kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và điều chỉnh phương thức hoạt động. Nhiều kết quả tích cực đã đạt được: công tác hiệp thương ngày càng nền nếp hơn; chương trình hành động ngày càng bám sát thực tiễn hơn; cơ chế phối hợp giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên, với cơ quan nhà nước cùng cấp từng bước chặt chẽ, hiệu quả hơn; giám sát, phản biện xã hội và các hoạt động vận động Nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước có chuyển biến rõ hơn về chiều sâu.

Bên cạnh đó, những hạn chế như hiệp thương còn có nơi chưa thật sự thực chất, chất lượng thống nhất hành động chưa đồng đều, trách nhiệm phối hợp của một số tổ chức thành viên chưa rõ, công tác sơ kết, tổng kết và đánh giá hiệu quả hiệp thương còn bất cập, tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới trong giai đoạn tới. Tuy nhiên, xét trên tổng thể, những hạn chế này không làm giảm ý nghĩa của hoạt động chủ trì hiệp thương; ngược lại càng cho thấy tầm quan trọng của việc tiếp tục củng cố và phát huy vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong bối cảnh mới.

Ths. Phạm Hồng Thanh

Trưởng Phòng Tổng hợp-Thư ký

Văn phòng Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Quốc hội (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 75/2015/QH13.

3. Quốc hội (2025), Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

4. Văn phòng Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH ngày 21/7/2025, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5. Văn phòng Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 89/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

6. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2025), Đề án tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031.

7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

8. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị Đại hội XI (Dự thảo 3, ngày 10/3/2026).

9. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.



[1] Khoản 1 Điều 9 Hiến pháp 2013 

[2] Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Báo cáo chính trị Đại hội XI (Dự thảo 3, ngày 10/3/2026

[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2026.