Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay

(Mặt trận) - Phát huy quyền làm chủ của nhân dân có vai trò quan trọng trong triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đi đôi với tinh giản bộ máy hành chính. Về ý nghĩa chính trị, mô hình này giúp xóa bỏ cấp trung gian, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, mở rộng không gian phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cho thấy những kết quả về phát huy dân chủ đại diện, giám sát và phản biện xã hội, cũng như những hạn chế, là cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

Thông qua dự thảo kết quả kiểm tra, giám sát đợt 3 đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật

Hội đồng tư vấn về Tôn giáo góp ý Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm, kiểm tra hoạt động tại Trung tâm hành chính công thành phố Hà Nội, ngày 1-7-2025_Ảnh: Tư liệu  

Trong bối cảnh đất nước bước vào một giai đoạn cải cách thể chế mạnh mẽ, việc triển khai Kết luận số 126-KL/TW ngày 14-2-2025, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, “Về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025”; Kết luận số 127-KL/TW, ngày 28-2-2025, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, “Về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị” đã mở ra một hướng đi mới đầy quyết liệt: tinh gọn bộ máy, sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện để vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh - xã). Đây không chỉ là một sự sắp xếp về mặt hành chính - tổ chức, mà còn là cuộc cải tổ sâu rộng, “đụng chạm” đến kết cấu quyền lực và phương thức quản trị tại cơ sở.

Trong bối cảnh đó, việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân không còn là một khẩu hiệu mang tính hình thức, mà đã trở thành điều kiện sống còn để bảo đảm sự đồng thuận xã hội, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo dựng một chính quyền thực sự “của dân, do dân và vì dân”. Mô hình mới chỉ có thể vận hành hiệu quả khi đi kèm cơ chế thể chế hóa rõ ràng vai trò tham gia, giám sát, phản biện của người dân, từ quy định đối thoại, tham vấn, đến các hội nghị công khai hằng năm giữa chính quyền với nhân dân. Chính trong thời điểm bước ngoặt này, việc nhìn lại thực trạng thực thi quyền làm chủ của người dân và đề xuất các giải pháp cụ thể, khả thi là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm rằng mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ gọn nhẹ về bộ máy, mà còn mạnh mẽ về chất lượng dân chủ và năng lực phục vụ.

Ý nghĩa, tầm quan trọng phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong chính quyền địa phương hai cấp

Một là, xóa bỏ cấp trung gian, đưa chính quyền gần dân.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh - xã) với việc không tổ chức cấp huyện được xem là bước cải tổ có tính cách mạng trong tổ chức bộ máy hành chính. Việc này nhằm “xóa bỏ tầng nấc trung gian, làm cho chính quyền gần dân hơn”(1). Khi không còn cấp huyện, quyền lực quản trị được tập trung rõ ràng hơn vào hai cấp là tỉnh và xã, giúp việc xử lý các vấn đề của nhân dân từ thủ tục hành chính, giám sát đầu tư đến chính sách hỗ trợ được nhanh chóng và hiệu quả hơn. Việc này không chỉ giảm đáng kể chi phí hành chính, mà còn tạo ra “không gian phát triển” kinh tế - xã hội lớn hơn, đặc biệt là ở cấp tỉnh, nơi có đủ nguồn lực và trách nhiệm quản lý vùng. Cơ cấu bộ máy hành chính tinh gọn giúp cán bộ xã trực tiếp tiếp xúc và giải quyết vấn đề của người dân, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân thông qua sự tham gia chủ động, trực tiếp vào quá trình ra quyết định ở cơ sở.

Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị.

Tinh giản bộ máy góp phần xóa bỏ chồng chéo chức năng, tiết kiệm ngân sách và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Tính đến ngày 14-6-2025, Chính phủ đã ban hành 28 nghị định phân quyền, phân cấp rõ ràng giữa Trung ương và chính quyền địa phương hai cấp trong các lĩnh vực trọng yếu như thuế, đất đai, y tế, tài chính(2). Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình quản lý tập trung sang trao quyền cho địa phương, đi kèm cơ chế giải trình và nguồn lực tương xứng. “Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”(3) - qua đó nâng cao tính khả thi chính sách, siết chặt giám sát và phòng, chống tham nhũng. Khi trách nhiệm được minh định và thông tin được công khai, người dân có thể giám sát, đánh giá và buộc chính quyền phải thực hiện đúng cam kết với nhân dân.

Ba là, tạo không gian phát triển lớn, đa vùng.

Việc sáp nhập một số tỉnh và tổ chức lại hệ thống chính quyền địa phương thành hai cấp giúp mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy hình thành các vùng kinh tế mạnh và liên kết vùng. Trong khuôn khổ quản trị mới này, nhân dân có thêm cơ hội giám sát và phản biện việc sử dụng nguồn lực và các dự án đầu tư quy mô lớn. Quy trình tham vấn và phản biện cộng đồng được thể chế hóa, qua đó giúp bảo đảm sự minh bạch, công khai trong quản trị vùng, đồng thời khuyến khích sự tham gia chủ động và hiệu quả hơn của nhân dân vào quản lý địa phương.

Bốn là, củng cố lòng tin của nhân dân và sự đồng thuận xã hội.

Việc tinh giản bộ máy đi đôi với truyền thông chủ động, minh bạch đã góp phần quan trọng vào việc tạo dựng lòng tin và sự ủng hộ từ nhân dân. Thông qua các phương tiện báo chí, các phương tiện truyền thông xã hội, họp báo, nhiều địa phương đã tổ chức họp báo, đối thoại trực tiếp kết hợp trực tuyến để giải thích rõ ràng về chủ trương sáp nhập, tổ chức lại bộ máy. Khi được tiếp cận thông tin kịp thời, người dân không cảm thấy bị động hay thiệt thòi, mà trái lại nhận thấy quyền làm chủ của mình được tôn trọng và lắng nghe. Truyền thông hiệu quả không chỉ giúp lan tỏa lợi ích của cải cách, mà còn tạo nền tảng cho sự đồng thuận xã hội, giảm thiểu xung đột tâm lý và tăng khả năng phối hợp giữa chính quyền và người dân trong quá trình thực thi chính sách.

Năm là, hoàn thiện thể chế và minh bạch quản trị.

Để mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu quả, việc hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý là yếu tố không thể thiếu. Kể từ tháng 6-2025, các văn bản pháp lý quan trọng như Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi một số điều), Luật Tổ chức chính quyền địa phương, cùng với các nghị định về phân quyền, phân cấp đã được ban hành một cách đồng bộ, nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho mô hình mới.

Đặc biệt, các nghị định này không chỉ phân quyền mà còn yêu cầu các cấp chính quyền phải công khai tài chính, dự án, hồ sơ đầu tư lên cổng thông tin điện tử; đồng thời tăng cường quy định về phản biện, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội. Đây là sự tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, giúp “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(4) một cách thực chất. Việc thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân bằng pháp luật là bước tiến quan trọng để quyền này không chỉ là khẩu hiệu mà trở thành thực tiễn thể chế vững chắc, được thực thi một cách hiệu quả và thực chất.

Thực trạng phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong 40 năm đổi mới

Thành tựu

Một là, đổi mới cơ chế dân chủ đại diện qua hoạt động của Quốc hội và hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp. Trong bốn thập niên đổi mới, các cơ quan dân cử đã không ngừng cải tiến quy trình hoạt động, tổ chức hội thảo, tọa đàm, tiếp xúc cử tri, chất vấn công khai, góp phần nâng cao chất lượng lập pháp và giám sát. Tính đến năm 2024, HĐND cấp tỉnh đã tổ chức hơn 500 phiên chất vấn công khai, góp phần kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm của đại biểu(5). Việc triển khai cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm kín đối với các chức danh do Quốc hội và HĐND bầu đã trở thành công cụ quan trọng nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả kiểm soát quyền lực trong bộ máy chính quyền.

Hai là, thể chế hóa quyền làm chủ thông qua hệ thống pháp luật. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (năm 2015) và Luật Trưng cầu ý dân (năm 2015) đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được xác định là liên minh chính trị - xã hội có vai trò tập hợp, phản ánh nguyện vọng, ý chí của nhân dân và thực hiện giám sát, phản biện chính sách. Theo báo cáo tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa năm 2024, đã có hơn 65.000 tổ chức tự quản và gần 38 triệu lượt người dân tham gia các hoạt động cộng đồng, cho thấy sự lan tỏa của dân chủ cơ sở và hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong đời sống chính trị - xã hội(6).

Ba là, nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trong giai đoạn 2019 - 2024, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức 16 diễn đàn phản biện chính sách ở cấp trung ương và địa phương. Riêng quận Tây Hồ (Hà Nội) đã triển khai tới 70 hội nghị phản biện với hơn 5.700 lượt người dân tham dự(7). Tại tỉnh Nghệ An, sự kiện Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân năm 2024 thu hút tới 38 triệu lượt người dân và hơn 131.000 cán bộ(8) tham gia, phản ánh vai trò tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội trong thúc đẩy minh bạch, phòng, chống tham nhũng và nâng cao năng lực giám sát cộng đồng.

Hạn chế, yếu kém

Một là, nhận thức về quyền làm chủ ở một số địa phương còn hình thức, phiến diện. Theo khảo sát của Viện Khoa học Tổ chức và Lao động (năm 2020), dù khung pháp lý và chủ trương có mở rộng không gian dân chủ, nhưng thực tiễn ở cơ sở lại mang nặng tính hình thức. Cụ thể, trong số 1.500 cán bộ cấp xã được khảo sát, có 23,1% chỉ hiểu sơ bộ về các chính sách liên quan đến dân chủ cơ sở, trong khi 0,9% hoàn toàn không nắm được khái niệm này(9). Vẫn còn tình trạng nhận thức chưa đầy đủ do thiếu chỉ đạo chặt chẽ, giám sát và đôn đốc thực hiện. Điều này dẫn đến tình trạng “dân biết” nhưng chưa đạt đến “dân bàn, dân kiểm tra”, gây hạn chế về hiệu quả tham gia và giám sát của nhân dân.

Hai là, tổ chức đảng ở một số nơi chưa thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Nghiên cứu cho thấy, một số tổ chức đảng có xu hướng hoặc quan liêu hóa quyền lực hoặc dân chủ hóa cực đoan, dẫn đến đối thoại thiếu thực chất và quyết định chưa phản ánh đúng nguyện vọng của đa số đảng viên và quần chúng nhân dân. 

Ba là, hệ thống pháp luật về dân chủ cơ sở tuy đã được ban hành nhưng thực thi còn thiếu đồng bộ và hiệu lực chưa cao. Mặc dù Nghị định số 04/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã được ban hành, song nhiều địa phương triển khai một cách hình thức, thiếu kiểm tra, giám sát. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Tam Đường (cũ) (tỉnh Lai Châu) năm 2024, chỉ có 14 hội nghị đối thoại xã hội được tổ chức trên toàn huyện (13 xã), với tổng cộng 943 lượt người tham dự và chỉ có 87 ý kiến(10) được xử lý, cho thấy tỷ lệ phản hồi thấp và còn mang tính tượng trưng. Việc công khai tài chính, dự án đầu tư công vẫn còn hình thức, thiếu chiều sâu, khiến người dân không thể thực hiện giám sát hiệu quả.

Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém là do:

Một là, nhận thức về quyền làm chủ và dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa đầy đủ. Một số người vẫn mang tư duy bao cấp, độc đoán, thiếu niềm tin vào năng lực làm chủ của nhân dân. Quan điểm dân chủ trong điều hành còn hình thức, ngại công khai, minh bạch thông tin, dẫn đến hạn chế khả năng tiếp cận, giám sát của người dân. Một số cấp ủy, chính quyền thiếu quyết tâm chính trị trong thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, khiến việc phát huy dân chủ không thực chất, không đi vào chiều sâu. Điều này đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của nhân dân, động lực phát triển và tính hiệu quả trong quản lý, điều hành nhà nước và xã hội.

Hai là, thể chế về dân chủ còn bất cập, chưa hoàn thiện, chưa theo kịp yêu cầu của quá trình đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Nhiều quy định về quyền làm chủ của Nhân dân thiếu cụ thể, rõ ràng hoặc chậm được sửa đổi, bổ sung, gây khó khăn trong việc thực thi và bảo vệ quyền làm chủ của người dân. Một số cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực chưa đủ mạnh, thiếu hiệu lực, hiệu quả, khiến quyền làm chủ của nhân dân dễ bị vi phạm, lợi dụng. Thể chế pháp lý thiếu đồng bộ, không tương thích với yêu cầu của tình hình mới đã tạo ra khoảng trống, dẫn đến việc quyền làm chủ của nhân dân chưa được bảo đảm đầy đủ.

Ba là, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự sâu rộng, hiệu quả còn hạn chế. Nhiều người dân chưa hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, chưa có ý thức đầy đủ để tham gia vào việc giám sát, quản lý các hoạt động của cơ quan nhà nước. Các hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, kém hấp dẫn, chưa phù hợp với đặc điểm từng nhóm đối tượng, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì thế, mức độ tham gia thực chất của nhân dân vào các hoạt động dân chủ trực tiếp và gián tiếp còn thấp, chưa phát huy hết tiềm năng, vai trò của người dân trong công cuộc đổi mới.

Bốn là, tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong hệ thống chính trị còn khá phổ biến, làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước trong việc bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Một số cán bộ, công chức có biểu hiện xa dân, không lắng nghe, tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thậm chí lợi dụng chức quyền để phục vụ lợi ích nhóm, cá nhân. Những biểu hiện tiêu cực này làm méo mó, hạn chế và cản trở việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, khiến việc xây dựng và củng cố nền dân chủ thực chất gặp nhiều khó khăn.

Năm là, cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội chưa thực sự hiệu quả và chưa đủ mạnh mẽ. Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm trong việc đại diện quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn hạn chế, chưa đáp ứng được kỳ vọng của người dân. Hoạt động giám sát, phản biện của các tổ chức này còn hình thức, thiếu quyết liệt, chưa thể hiện rõ nét vai trò độc lập, khách quan. Điều này đã hạn chế khả năng bảo vệ quyền lợi, thúc đẩy quyền làm chủ thực chất của nhân dân, làm suy yếu vai trò và sự ảnh hưởng của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế để người dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước ở cấp cơ sở một cách thực chất và hiệu quả.

Trong điều kiện xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp tinh gọn, việc hoàn thiện pháp luật và cơ chế tham gia là nền tảng bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân. Mặc dù đã có nhiều văn bản như Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP…, song thực tế triển khai vẫn còn hình thức, thiếu hiệu lực và thiếu gắn kết giữa pháp luật với đời sống. Nguyên nhân đến từ hệ thống quy định chưa rõ ràng, chồng chéo; nhận thức của cán bộ còn phiến diện; thiếu cơ chế giám sát và chế tài cụ thể.

Để khắc phục, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp luật theo hướng rõ ràng, khả thi và gắn với trách nhiệm giải trình của chính quyền. Quy định phải nêu rõ nội dung, phạm vi, hình thức người dân được tham gia vào các khâu: xây dựng, thực thi và giám sát chính sách công. Song song, cần thiết lập cơ chế phản hồi bắt buộc đối với ý kiến, kiến nghị của nhân dân, qua đó nâng cao tính tương tác hai chiều giữa chính quyền và người dân.

Ngoài ra, cần tăng cường công tác phổ biến pháp luật gắn với đặc điểm vùng miền, giúp người dân hiểu và thực hiện tốt quyền làm chủ. Chỉ khi hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch và thực thi hiệu quả thì quyền làm chủ của nhân dân mới không còn là hình thức, mà trở thành động lực nội sinh cho phát triển xã hội.

Hai là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức các cấp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Một trong những rào cản lớn đối với việc phát huy dân chủ thực chất ở cơ sở hiện nay là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập, biểu hiện ở tư duy quản lý hành chính cứng nhắc, thiếu kỹ năng dân vận và tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao. Điều đó cho thấy việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là yêu cầu cấp thiết, trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng thực thi pháp luật và hiệu quả phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Giải pháp đặt ra là phải đổi mới căn bản công tác tuyển dụng, sử dụng và bồi dưỡng cán bộ. Quá trình tuyển chọn cần bảo đảm công khai, minh bạch, lấy phẩm chất, năng lực thực tiễn và đạo đức công vụ làm tiêu chí hàng đầu. Bên cạnh đó, cần xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, chú trọng kiến thức về pháp luật dân chủ cơ sở, kỹ năng tiếp dân, đối thoại và xử lý phản hồi xã hội. Đặc biệt, cần phát huy cơ chế đánh giá cán bộ thông qua mức độ hài lòng của Nhân dân, gắn kết quả đó với công tác thi đua - khen thưởng, luân chuyển hoặc miễn nhiệm. Những địa phương có trên 80% số người dân đánh giá hài lòng sẽ được xếp loại cao trong thi đua, bổ nhiệm. Đồng thời, cần phát hiện, tôn vinh và luân chuyển cán bộ xã có năng lực tốt nhằm lan tỏa mô hình cán bộ tiêu biểu. Khi cán bộ thực sự lắng nghe và hành động vì dân, quyền làm chủ sẽ được bảo đảm một cách bền vững, góp phần xây dựng chính quyền dân chủ, hiệu quả từ cơ sở.

Ba là, đa dạng hóa các hình thức giám sát, phản biện xã hội của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương.

Dù hệ thống pháp luật đã quy định khá đầy đủ về giám sát, phản biện xã hội, song trên thực tế, việc triển khai ở cơ sở vẫn còn hình thức, hiệu quả thấp. Các hội nghị đối thoại, phản biện qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể chưa thể hiện đầy đủ vai trò đại diện cho nhân dân, do thiếu cơ chế vận hành cụ thể và năng lực phản biện còn hạn chế. Vì vậy, cần cấp thiết đa dạng hóa hình thức giám sát, phản biện xã hội phù hợp với từng cộng đồng. Bên cạnh kênh chính thức qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cần phát triển các mô hình như tổ giám sát cộng đồng, hội nghị công dân, diễn đàn xã hội, tiếp công dân định kỳ... Đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ người dân khi thực hiện quyền giám sát để tránh tình trạng né tránh, đối phó từ một bộ phận cán bộ, công chức. Mặt khác, cần nâng cao năng lực, tính độc lập và minh bạch của các tổ chức phản biện; bảo đảm họ có quyền tiếp cận thông tin và nguồn lực để tổ chức phản biện một cách công tâm, có trách nhiệm. Cuối cùng, việc tiếp thu và công khai kết quả giám sát phải được thể chế hóa rõ ràng để tăng trách nhiệm giải trình. Khi đó, giám sát, phản biện xã hội trở thành trụ cột của dân chủ, góp phần củng cố lòng tin và sự đồng thuận của người dân với chính quyền.

Bốn là, tăng cường minh bạch hóa thông tin và trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp trước nhân dân.

Minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình là nền tảng cốt lõi để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn công khai thông tin một cách hình thức, chậm cập nhật và thiếu tính dễ hiểu. Việc công khai tài chính - ngân sách thường dừng ở mức “niêm yết” hay “đọc báo cáo”, xa rời nhu cầu tiếp cận thực chất của người dân. Để khắc phục, chính quyền cần chủ động đổi mới cách thức và nội dung công khai. Mỗi xã, phường cần có cổng thông tin điện tử cập nhật thường xuyên các vấn đề quy hoạch, ngân sách, dự án đầu tư, kế hoạch phát triển. Các quyết định chi ngân sách phải được công khai trước - sau tối đa 7 ngày, kèm thời gian tiếp nhận phản hồi từ cộng đồng. Nội dung phải dễ hiểu và kết hợp cả trực tuyến lẫn trực tiếp. Song song, cơ chế giải trình định kỳ và đột xuất cần được thực hiện thông qua các phiên tiếp xúc cử tri, đối thoại công khai hoặc chất vấn. Giải trình không chỉ là báo cáo, mà còn là cam kết sửa sai và minh bạch kết quả khắc phục. Chính quyền cấp trên phải giám sát nghiêm ngặt việc thực hiện ở cấp dưới, gắn kết quả với thi đua - khen thưởng. Khi chính quyền minh bạch và trách nhiệm, người dân mới thực sự có điều kiện để giám sát và phát huy quyền làm chủ hiệu quả.

Năm là, thực hiện kiểm định chất lượng dịch vụ công một cách khách quan, độc lập và có sự tham gia đánh giá của người dân.

Chất lượng dịch vụ công là thước đo trực tiếp mức độ minh bạch, hiệu quả và tinh thần phục vụ của chính quyền. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc kiểm định hiện nay vẫn mang tính nội bộ, thiếu giám sát độc lập và chưa phát huy tiếng nói của người dân - đối tượng thụ hưởng trực tiếp. Để khắc phục tình trạng này, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuẩn áp dụng thống nhất từ cấp xã đến cấp tỉnh, bao gồm: tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, thời gian xử lý, mức độ hài lòng, số lượng phản ánh khiếu nại... Dữ liệu cần được thu thập qua nền tảng số và khảo sát trực tiếp, bảo đảm dễ tiếp cận, ẩn danh và đa dạng hình thức. Việc đánh giá phải do một đơn vị độc lập hoặc liên ngành thực hiện, coi sự hài lòng của người dân là tiêu chí trung tâm. Kết quả kiểm định cần được công khai mỗi quý, kèm theo đối thoại công khai giữa chính quyền và người dân để lắng nghe, phản hồi và điều chỉnh. Những địa phương đạt trên 85% mức độ hài lòng sẽ được khen thưởng và ưu tiên nguồn lực phát triển. Khi ý kiến người dân thực sự tạo ra thay đổi, quyền làm chủ sẽ không còn là hình thức, mà trở thành động lực then chốt để nâng cao chất lượng nền hành chính phục vụ.

Sáu là, thúc đẩy dân chủ trực tiếp của nhân dân thông qua các mô hình thí điểm.

Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện đầy đủ nhất quyền làm chủ của người dân, nhưng trên thực tế vẫn chưa được triển khai hiệu quả ở cơ sở. Nguyên nhân đến từ sự thiếu hụt về thiết chế, mô hình và cả tâm lý e dè trong chia sẻ quyền lực. Do đó, cần đẩy mạnh thí điểm các mô hình dân chủ trực tiếp như “ngân sách tham gia” - nơi người dân cùng bàn bạc, quyết định phân bổ nguồn lực địa phương; “trưng cầu ý dân” đối với các quyết sách trọng đại; hay “tổ hợp dân cư tự quản” - nơi cộng đồng cùng xây dựng hương ước, giám sát lẫn nhau. Các mô hình này cần được hỗ trợ bởi không gian thảo luận công khai, quy trình rõ ràng và sự bảo trợ kỹ thuật từ chính quyền. Việc khuyến khích thanh niên, phụ nữ, người yếu thế tham gia vào các hội đồng đại diện như “Hội đồng nhân dân trẻ”… sẽ mở rộng sự đa dạng trong đại diện xã hội. Dân chủ trực tiếp không chỉ củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, mà còn góp phần xây dựng văn hóa đối thoại, tinh thần trách nhiệm cộng đồng và một chính quyền thật sự của dân, do dân, vì dân./.

PGS, TS Nguyễn Ngọc Ánh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

--------------------

(1) Ngọc Thành: “Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình: Chuẩn bị để tăng tốc”, Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 30-6-2025, https://vov.vn/chinh-tri/pho-thu-tuong-thuong-truc-nguyen-hoa-binh-chuan-bi-de-tang-toc-post1210747.vov?utm
(2) Xem: “Toàn văn 28 Nghị định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền giữa Chính phủ và chính quyền địa phương 2 cấp”, Báo Điện tử Chính phủ, ngày 14-6-2025, https://baochinhphu.vn/toan-van-28-nghi-dinh-ve-phan-quyen-phan-cap-phan-dinh-tham-quyen-giua-chinh-phu-va-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-102250613104134297.htm?utm_
(3) Thanh Giang: “Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ về phân cấp, phân quyền”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 29-5-2025, https://nhandan.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-chu-tri-phien-hop-chinh-phu-ve-phan-cap-phan-quyen-post883293.html
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 249
(5) Văn phòng Quốc hội: Báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động chất vấn hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Hà Nội, 2024, tr. 12
(6) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thanh Hóa: Báo cáo chính trị trình Đại hội Mặt trận Tổ quốc tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2024 - 2029, 2024, tr. 8
(7) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quận Tây Hồ: Báo cáo tổng kết hoạt động phản biện xã hội nhiệm kỳ 2019-2024, tr. 5
(8) Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An: Báo cáo tổ chức Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân, tháng 11-2024, tr. 4
(9) Viện Khoa học Tổ chức và Lao động: Khảo sát nhận thức cán bộ cơ sở về dân chủ, Nghiên cứu nội bộ, 2020, tr. 6
(10) Ủy ban nhân dân huyện Tam Đường: Báo cáo kết quả thực hiện dân chủ cơ sở năm 2024, Lai Châu, tr. 7