(Mặt trận) - Một dấu mốc quan trọng trong công tác dân số là Luật Dân số được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 10/12/2025, gồm 8 chương, 30 điều, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
 |
| Ảnh minh họa. (Nguồn: Nguyễn Nam/TTXVN) |
Dân số Việt Nam đạt 102,3 triệu người (năm 2025), tiếp tục tăng nhưng tốc độ tăng tự nhiên có xu hướng chậm lại. Cùng với những biến động rõ nét về mức sinh, già hóa dân số, cơ cấu tuổi và phân bố dân cư, bức tranh dân số Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển tiếp quan trọng.
Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân tiến tới Đại hội XIV của Đảng, việc nhìn lại thành tựu công tác dân số thời gian qua là cơ sở quan trọng để xác định phương hướng, nhiệm vụ cho giai đoạn phát triển mới.
Quy mô dân số được kiểm soát, chất lượng dân số từng bước nâng cao
Năm 2025 được đánh giá là một trong những năm bản lề của ngành dân số, vừa khép lại chu kỳ triển khai các nhiệm vụ theo Chiến lược Dân số Việt Nam, vừa mở ra giai đoạn thực thi hệ thống chính sách mới với sự ra đời của Luật Dân số.
Bức tranh dân số năm 2025 vì vậy mang tính “kép”: vừa phản ánh hiệu quả điều hành của những năm trước, vừa cho thấy rõ những vấn đề đặt ra cần xử lý thời gian tới. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), dân số trung bình của Việt Nam năm 2025 đạt 102,3 triệu người, tăng khoảng 1 triệu người so với năm 2024. Cơ cấu giới tính toàn dân cơ bản ổn định, với 51 triệu nam giới (49,9%) và 51,3 triệu nữ giới (50,1%). Dân số khu vực thành thị đạt 39,5 triệu người, chiếm 38,6%; khu vực nông thôn là 62,9 triệu người, chiếm 61,4%.
Tổng tỷ suất sinh (TFR) năm 2025 đạt 1,93 con/phụ nữ, tăng nhẹ so với năm 2024 nhưng vẫn nằm trong xu hướng giảm dài hạn từ năm 2020 đến nay. Tỷ trọng nhóm dân số trẻ (0–14 tuổi) tiếp tục giảm từ 23,5% xuống 22,8%, phản ánh rõ xu thế giảm sinh và tốc độ tái sản xuất dân số chậm lại.
Cùng với đó, các chỉ tiêu về sức khỏe dân số duy trì ở mức tích cực, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh giảm nhẹ còn 11,2%; tuổi thọ trung bình đạt 74,7 tuổi, tương đương năm 2024.
Năm 2025, tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khỏe định kỳ đạt 70%, tăng 6,6% so với năm 2024; gần 46.000 tình nguyện viên tham gia chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng; hơn 12.300 câu lạc bộ người cao tuổi duy trì sinh hoạt thường xuyên. Những kết quả này cho thấy chất lượng chăm sóc sức khỏe, điều kiện sống và nhận thức của người dân tiếp tục được cải thiện.
Mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản tiếp tục được duy trì, mở rộng. Gần 500.000 phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh (tỷ lệ 66,59%), hơn 422.000 trẻ sơ sinh được sàng lọc bẩm sinh (tỷ lệ 58%).
Hệ thống 1.398 cơ sở lấy mẫu máu gót chân và 160 cơ sở xét nghiệm vận hành ổn định, giúp phát hiện sớm nhiều bệnh bẩm sinh, giảm gánh nặng y tế về sau.
Một trong những thành tựu nổi bật của công tác dân số thời gian qua là Việt Nam tiếp tục duy trì cơ cấu “dân số vàng.”
Nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15–59 tuổi) chiếm khoảng 62,7% tổng dân số năm 2025. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển công nghiệp, dịch vụ và kinh tế tri thức.
Tuy nhiên, đi liền với cơ cấu dân số vàng là quá trình già hóa diễn ra nhanh. Tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên tăng từ 14% năm 2024 lên 14,5% năm 2025.
Điều này cho thấy Việt Nam đang tiến nhanh tới giai đoạn dân số già, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuẩn bị hệ thống an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe dài hạn và thích ứng chính sách trong thời gian tới.
Công tác truyền thông, giáo dục dân số được triển khai rộng khắp đã góp phần thay đổi hành vi và nhận thức xã hội. Mô hình gia đình ít con, chú trọng chất lượng sống, chăm sóc sức khỏe sinh sản, nâng cao vai trò của phụ nữ và bình đẳng giới ngày càng được khẳng định.
Năm 2025, Cục Dân số triển khai kho dữ liệu dân số trên phạm vi 3.321 xã/phường, thử nghiệm hệ thống MIS trên nền tảng web tại tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng.
Công tác đối chiếu, thẩm định dữ liệu được tăng cường nhằm chuẩn hóa và tạo tiền đề kết nối dữ liệu dân cư theo yêu cầu của Luật Dân số. Chuyển đổi số trong dân số là một khâu quan trọng để nâng cao năng lực phân tích, dự báo nhân khẩu học. Đây được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng trong giai đoạn xây dựng chính sách dài hạn.
Những chuyển biến này không chỉ giúp kiểm soát quy mô dân số mà còn tạo nền tảng cho mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, yếu tố cốt lõi của phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Xây dựng các chính sách đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước
 |
| Trung tâm Sơ sinh - Bệnh viện Nhi đồng 1 TP Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu (minh họa): Đinh Hằng/TTXVN |
Một dấu mốc quan trọng trong công tác dân số là Luật Dân số được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 10/12/2025, gồm 8 chương, 30 điều, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Đây là đạo luật đầu tiên xây dựng toàn diện về dân số, thể hiện sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển.”
Cùng với đó, nhiều văn bản quan trọng được ban hành như Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh Dân số, Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW, các thông tư hướng dẫn phân cấp quản lý dân số và chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026–2035.
Luật Dân số bao quát đầy đủ các nội dung về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số; thích ứng với già hóa; giảm mất cân bằng giới tính khi sinh; xây dựng hệ thống dữ liệu dân số; xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác dân số.
Việc ban hành Luật tạo cơ sở pháp lý quan trọng để quản trị hiệu quả những biến động dân số trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Bước vào giai đoạn tới, công tác dân số đứng trước nhiều thách thức lớn: mức sinh giảm dài hạn, già hóa dân số tăng nhanh, mất cân bằng giới tính khi sinh chưa được kiểm soát bền vững, cơ cấu dân số vàng dần thu hẹp. Những vấn đề này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, nguồn nhân lực và an sinh xã hội, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và chính sách.
Phương hướng xuyên suốt của công tác dân số thời gian tới là tiếp tục quán triệt tinh thần của Luật Dân số: coi dân số là một cấu phần chiến lược của phát triển.
Chính sách dân số cần được lồng ghép chặt chẽ với quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội, đô thị hóa, giáo dục, y tế, thị trường lao động và chuyển đổi số. Tiếp cận toàn diện này giúp Việt Nam chủ động thích ứng với những thay đổi nhân khẩu học nhanh và phức tạp trong thập niên tới.
Trong bối cảnh mức sinh có xu hướng giảm kéo dài, Luật Dân số đã luật hóa nhiều chính sách hỗ trợ nhằm duy trì mức sinh hợp lý. Cụ thể, lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày khi vợ sinh con; hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi, phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người, phụ nữ ở địa phương có mức sinh thấp; ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội cho gia đình có từ hai con trở lên.
Việc triển khai đồng bộ các chính sách này nhằm giảm áp lực chi phí, tạo môi trường thuận lợi để các gia đình yên tâm sinh đủ con, qua đó bảo đảm cân đối nguồn nhân lực trong dài hạn.
Già hóa dân số nhanh đòi hỏi sự chuẩn bị sớm và bài bản. Luật Dân số đặt ra yêu cầu khuyến khích người dân chuẩn bị về sức khỏe, tài chính, tâm lý trước tuổi già; mở rộng độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; phát triển hệ thống chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng; xây dựng môi trường sống, đô thị và dịch vụ thân thiện với người cao tuổi. Mục tiêu là hướng tới “già hóa chủ động”, bảo đảm người cao tuổi sống khỏe, sống có ích, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Tỷ số giới tính khi sinh năm 2025 ở mức 110 bé trai/100 bé gái vẫn là thách thức lớn. Luật Dân số quy định nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh lý; khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ vào hương ước, quy ước cộng đồng.
Việc giảm mất cân bằng giới tính khi sinh cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhằm bảo đảm ổn định xã hội trong trung và dài hạn.
Giai đoạn phát triển mới, việc nâng cao chất lượng dân số được coi là nhiệm vụ xuyên suốt. Công tác dân số cần gắn với chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; nâng cao thể lực, tầm vóc, trí lực người Việt Nam; mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, thanh niên; ứng dụng công nghệ trong quản lý dân cư và kết nối dữ liệu dân số với y tế, giáo dục, an sinh xã hội.
Chất lượng dân số được nâng cao sẽ trực tiếp góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng tăng trưởng.
Trong bối cảnh chuyển đổi nhân khẩu học diễn ra ngày càng nhanh, với những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, tổ chức bộ máy, phương thức triển khai và định hướng chính sách, ngành dân số bước vào giai đoạn mới với vai trò ngày càng quan trọng trong việc bảo đảm nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống và củng cố nền tảng an sinh xã hội cho đất nước.
Theo Báo Tin Tức