(Mặt trận) - Bối cảnh mới với sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ cùng nhiều biến động của thế giới hiện nay đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới mô hình phát triển, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là yếu tố then chốt, động lực cốt lõi để đưa đất nước phát triển bứt phá, hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm khu trưng bày sản phẩm khoa học - công nghệ tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 16-5-2026_Ảnh: tienphong.vn |
Quan điểm, chủ trương của Đảng về khoa học, công nghệ qua 40 năm đổi mới
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã có sự phát triển tư duy về khoa học, công nghệ thể hiện ở nhiều quyết sách quan trọng qua các thời kỳ, đồng thời luôn đề cao vị trí, vai trò khoa học, công nghệ “là quốc sách hàng đầu”, “là nền tảng, động lực phát triển” và ngày càng nhấn mạnh tính cấp thiết cũng như yêu cầu đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đối với sự phát triển của đất nước, nhất là trong bối cảnh mới với nhiều đổi thay nhanh chóng của thực tiễn.
Tại Đại hội VI của Đảng năm 1986, mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng đã khẳng định: ...“phải làm cho khoa học, kỹ thuật thật sự trở thành một động lực to lớn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vị trí then chốt của cách mạng khoa học - kỹ thuật trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phải được thể hiện trong cuộc sống”. Khoa học, kỹ thuật là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội(1). Đại hội VII của Đảng năm 1991 đã nâng tầm khoa học, công nghệ trở thành “quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển”(2); đồng thời khẳng định: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”(3). Vai trò to lớn của khoa học, công nghệ và yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ tiếp tục được nhấn mạnh tại các kỳ đại hội sau đó của Đảng như: “Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường và tài trí của người Việt Nam; quyết tâm đưa đất nước ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học, công nghệ”(4); “Phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”(5) (Đại hội VIII của Đảng năm 1996); nhấn mạnh, nâng tầm khoa học, công nghệ là “nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(6) (Đại hội IX của Đảng năm 2001); xác định vai trò nền tảng, động lực quan trọng của khoa học, công nghệ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; “Phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ… kết hợp giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức”(7) (Đại hội X của Đảng năm 2006); tiếp tục khẳng định phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu; khoa học, công nghệ là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại; đề ra nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ là khâu đột phá để nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế (Đại hội XI của Đảng năm 2011). Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1-11-2012, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” cũng chỉ rõ: Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội XII của Đảng năm 2016 khẳng định vị thế mới vô cùng quan trọng của khoa học, công nghệ khi xác định khoa học, công nghệ “thực sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh”(8); đồng thời nhấn mạnh lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu cho sự phát triển. Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, trong đó xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia với trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số; đồng thời, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn, công bằng xã hội và tính bền vững của quá trình phát triển đất nước.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trên cơ sở nhận định về thời cơ, thách thức và những tác động đột phá của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Đại hội XIII của Đảng năm 2021 khẳng định một trong các đột phá chiến lược để phát triển đất nước thời kỳ mới là phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cần tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng và phát triển mạnh khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”(9)…; đẩy mạnh việc làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, phát triển các ứng dụng công nghệ cao hướng tới hình thành doanh nghiệp số Việt Nam mang tầm quốc gia, khu vực và thế giới. Đây là sự đổi mới tư duy về phát triển, phù hợp với xu thế tiến bộ chung.
Trước những vấn đề mới được đặt ra từ tình hình thế giới và thực tiễn trong nước, ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, trong đó nhấn mạnh: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới; là yếu tố quyết định sự phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh trong kỷ nguyên mới. Có thể thấy, Nghị quyết số 57-NQ/TW là một quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng, tạo xung lực mới, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về khoa học, công nghệ qua 40 năm đổi mới đất nước đã được thể chế hóa cụ thể nhằm bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tiêu biểu như Luật Khoa học và Công nghệ (ban hành năm 2000, sửa đổi năm 2013); Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (ban hành năm 2025)… Cùng với đó là hệ thống cơ chế, chính sách không ngừng được hoàn thiện và đổi mới nhằm tháo gỡ vướng mắc, giải phóng sức sáng tạo và nguồn lực để phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ; chú trọng đầu tư hạ tầng nghiên cứu và các thiết chế trung gian, cơ quan quản lý, điều phối hoạt động khoa học, công nghệ; phát triển thị trường công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; hình thành doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hệ thống sở hữu trí tuệ và tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp và phát triển. Cùng với đó, trình độ khoa học và công nghệ của Việt Nam từng bước được nâng lên. Năm 2025, chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia, nền kinh tế, đặc biệt vươn lên vị trí dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Khoa học, công nghệ đã thúc đẩy năng suất, chất lượng và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển của đất nước.
Bối cảnh mới và yếu tố then chốt trong đổi mới mô hình phát triển đất nước
Thế giới đang đối mặt với nhiều vấn đề về địa - chính trị, địa - kinh tế, căng thẳng thương mại, chiến tranh cục bộ, biến đổi khí hậu cùng không ít thách thức an ninh phi truyền thống khác. Đặc biệt, trong những thập niên gần đây, nhân loại đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mở ra kỷ nguyên số với các công nghệ hội tụ và siêu trí tuệ. Những công nghệ mới ra đời như internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, chuỗi khối, lượng tử, công nghệ sinh học, robot thế hệ mới,… đã và đang tạo ra nguồn lực mới cho tăng trưởng trong nền kinh tế toàn cầu cũng như tạo nên một nền tảng mới cho sự phát triển về chất và những thay đổi đột phá trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, ở các cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia, cộng đồng, gia đình và mỗi con người. Trong mô hình phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ đang phá vỡ hầu hết nền tảng sản xuất truyền thống ở mọi quốc gia vốn dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thâm dụng vốn, lao động giá rẻ trình độ thấp…; đặt ra yêu cầu chuyển sang các mô hình phát triển dựa chủ yếu vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với việc sử dụng các công nghệ, quy trình sản xuất thông minh, các phương thức sản xuất mới, các phương thức tương tác mới giữa con người với tự nhiên, con người với con người, con người với máy móc… Từ đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo làm thay đổi căn bản cơ cấu của nền kinh tế, xuất hiện những ngành, nghề mới, nhất là các mô hình kinh tế mới với việc ứng dụng công nghệ cao, tạo ra năng suất lớn, chất lượng cao, hướng tới sự phát triển bền vững như kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn… Do vậy, tất yếu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng làm chủ công nghệ trong tất cả các lĩnh vực, đồng thời có những tri thức và kỹ năng lao động mới.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang đến những cơ hội to lớn đối với sự phát triển, song cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các quốc gia trên thế giới, trong đó có những nước đang phát triển như Việt Nam. Bối cảnh mới này có thể dẫn đến sự cạnh tranh chiến lược về công nghệ giữa các nước lớn, đến tình trạng bất bình đẳng lớn về công nghệ và nhân lực giữa các nước hoặc dẫn tới nguy cơ phá vỡ thị trường lao động khi quá trình đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực không thích ứng kịp với thực tiễn phát triển của khoa học công nghệ và sự thay đổi sản xuất, kinh doanh; từ đó dẫn tới hiện tượng lao động vừa thừa lại vừa thiếu (dư thừa lao động giản đơn, trình độ thấp; tình trạng thất nghiệp gia tăng; thiếu nguồn lao động có chất lượng đáp ứng yêu cầu mới).
Thực tiễn trên đã và đang đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, mô hình quản trị quốc gia, thiết lập lại không gian phát triển đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong mô hình phát triển mới đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là yếu tố giữ vai trò then chốt, quyết định sự thành bại. Nhiệm vụ cấp thiết đặt ra với mỗi quốc gia là cần đổi mới thể chế và mô hình phát triển, nhất là thể chế quản lý và quản trị phát triển khoa học, công nghệ (đặc biệt là quản lý phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo hiện nay) trong từng ngành, lĩnh vực, đơn vị; trên cơ sở đó xác định rõ chiến lược và mục tiêu phát triển đất nước.
Với Việt Nam, trong khoảng hơn 30 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới, những chỉ số phát triển tổng hợp của nền kinh tế - xã hội đất nước cho thấy nước ta chủ yếu vận hành mô hình phát triển theo chiều rộng với đặc trưng cơ bản là thâm dụng vốn, đất đai và tài nguyên, lao động giá rẻ, sản phẩm chủ yếu là chế biến thô với trình độ công nghệ chủ yếu thấp và trung bình, thiên về tăng quy mô số lượng. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và tỷ lệ đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP còn thấp, tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa trên đóng góp của vốn và lao động; vai trò của khoa học, công nghệ còn thấp. Điều này cho thấy việc ứng dụng khoa học, công nghệ gắn với tổ chức và quản lý khoa học trong sản xuất, kinh doanh vẫn chưa đóng vai trò chủ đạo, then chốt trong tăng trưởng và phát triển đất nước. Năng lực đổi mới sáng tạo tuy có bước phát triển, song vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Khả năng tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam chưa cao. Trình độ công nghệ của nền sản xuất xã hội nhìn chung còn thấp. Chất lượng sản phẩm và giá trị gia tăng không cao, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và của cả nền kinh tế thấp, chậm được cải thiện, làm suy giảm đáng kể động lực, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng thẳng thắn nhìn nhận, thời gian qua, dù Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức. Thực tế trên đặt ra yêu cầu khách quan cần chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Đại hội XIV của Đảng nhận định: “Thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; trong nước đang triển khai những quyết sách chiến lược mang tính cách mạng, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới rất cao; đồng thời đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước”(10). Đồng thời, nước ta đang hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế hai con số, điều đó có nghĩa là chúng ta cần chuyển đổi cách tiếp cận, từ chỗ chỉ lắp ráp, gia công sản phẩm “Made in Vietnam” phải trở thành một quốc gia có đủ năng lực đổi mới sáng tạo và chế tạo sản phẩm “Created in Vietnam”; từ một nền kinh tế thâm dụng lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên không tái tạo phải trở thành nền kinh tế được dẫn dắt bởi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên cơ sở phát huy hiệu quả nguồn vốn con người, vốn trí tuệ. Có thể thấy, nước ta đang ở một thời điểm có tính bước ngoặt trong sự phát triển, nếu không đổi mới tư duy và mô hình phát triển dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo động lực mạnh mẽ, đột phá chiến lược cho sự phát triển bứt phá của đất nước trong kỷ nguyên mới thì sẽ bị tụt hậu xa hơn, rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải có sự tích cực, chủ động và hiệu quả hơn nữa trong đổi mới mô hình phát triển đất nước với việc chú trọng phát triển yếu tố then chốt là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Do đó, Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước, đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển một cách toàn diện, nhất quán và mang tầm chiến lược dài hạn. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đại hội XIV đề ra là: “xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, gắn với bảo đảm kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế”(11). Cùng với đó, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng chỉ rõ: “chuyển đổi mô hình phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới trước hết là chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy: từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào tri thức, công nghệ và năng suất; từ quản lý sang kiến tạo phát triển; từ Nhà nước “làm thay” sang “tạo điều kiện để xã hội và doanh nghiệp sáng tạo”(12).
Như vậy, trọng tâm của sự chuyển đổi là dịch chuyển căn bản từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả và bền vững. Trong mô hình phát triển mới, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là điều kiện then chốt, động lực trung tâm, dẫn dắt quá trình tăng trưởng và phát triển. Tư duy phát triển mới cũng cho thấy TFP được coi là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng và trình độ phát triển của nền kinh tế. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao TFP thông qua việc cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản trị, tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực. Bên cạnh việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ từ bên ngoài, Việt Nam cần từng bước làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Cùng với đó, kinh tế số (mở ra không gian phát triển mới dựa trên dữ liệu, nền tảng số và công nghệ số), kinh tế tri thức (nhấn mạnh vai trò của tri thức, sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao) và kinh tế xanh (hướng tới tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững) được xác định là những trụ cột mới của mô hình tăng trưởng. Điều này thể hiện sự chuyển dịch rõ ràng trong tư duy phát triển: từ dựa chủ yếu vào khai thác nguồn lực sẵn có sang dựa vào tri thức, công nghệ và năng lực sáng tạo, đồng thời phản ánh xu thế chung của thế giới, cũng như phù hợp với điều kiện và yêu cầu phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới.
Một số định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thời gian tới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
Thời gian tới, để đổi mới thành công mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần chú trọng thúc đẩy sự phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, trong đó tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau:
Một là, đẩy mạnh triển khai và nâng cao hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng với các nội dung trọng tâm, đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhằm tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Các cấp ủy và chính quyền cần tích cực, chủ động trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, quyết tâm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thực hiện chuyển đổi số trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, tạo niềm tin, khí thế mới trong xã hội. Từ đó, xây dựng nhiệm vụ cụ thể về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; đồng thời tích cực kiểm tra, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của đất nước.
Xây dựng quy hoạch tổng thể ở tầm vĩ mô và các quy hoạch, kế hoạch cụ thể cấp vi mô, tạo sự đồng bộ, thông suốt, gắn kết chặt chẽ nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từ quốc gia đến các doanh nghiệp, đơn vị, địa phương, từ các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp lớn đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từng hộ sản xuất, kinh doanh. Đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, nhất là cập nhật kiến thức về chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện mới.
Thực hiện cơ chế thực tài với các chính sách đột phá trong sử dụng người tài như: trao cơ hội công bằng cho người tài; lựa chọn, quy hoạch người tài giữ vị trí lãnh đạo, quản lý; thu hút tài năng khoa học, công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài về làm việc tại Việt Nam với hệ thống chính sách đồng bộ. Ví dụ, tuyển dụng nhân tài trên cơ sở năng lực chuyên môn và tiềm năng phát triển; đào tạo, phát triển và sử dụng nhân tài đồng bộ (chọn, cử người tài đi đào tạo ở nước ngoài, sử dụng người tài sau đào tạo; kết hợp đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ giữa các viện, trường, doanh nghiệp…); quy hoạch, bổ nhiệm người tài vào các vị trí lãnh đạo (lựa chọn những người xứng đáng về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức); phát triển đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, tập trung vào các lĩnh vực cần ưu tiên.
Để thu hút nhân tài trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, cần xây dựng môi trường làm việc hấp dẫn, kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng nghiên cứu thuận lợi, môi trường học thuật tiên tiến, bảo đảm tự do học thuật và tự chủ trong nghiên cứu, dỡ bỏ các rào cản hành chính và khuyến khích văn hóa đổi mới sáng tạo, chấp nhận mạo hiểm và “bình thường hóa” thất bại trong khoa học; đồng thời xây dựng hệ sinh thái đồng sáng tạo đa chức năng phục vụ nghiên cứu, bảo đảm các tiện ích sinh hoạt cùng chính sách, đãi ngộ tương xứng. Phát huy trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của nhà khoa học trong việc đào tạo lực lượng kế cận, trung thực và liêm chính trong khoa học.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế thúc đẩy sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu, then chốt trong mô hình phát triển mới.
Xây dựng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với điều kiện, yêu cầu và mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong bối cảnh mới gắn với xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoàn thiện thể chế theo hướng khuyến khích sáng tạo, tôn trọng quy luật thị trường, đồng thời chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các mô hình, công nghệ mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng. Bảo đảm sự liên thông giữa thể chế kinh tế (tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh), thể chế khoa học, công nghệ và thể chế giáo dục, đào tạo (cung cấp nguồn nhân lực, tri thức và công nghệ để phát triển). Hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật về khoa học, công nghệ, đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, ngân sách nhà nước, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế,… để tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản, giải phóng các nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia,
Triển khai hoàn thiện thể chế quản lý tổ chức khoa học, công nghệ công lập; thể chế quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước; thể chế phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp,… Cụ thể như đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý đối với tổ chức khoa học, công nghệ công lập với việc giao kinh phí dựa trên đánh giá định kỳ kết quả và hiệu quả hoạt động cùng với thực hiện phương thức Nhà nước đặt hàng, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng theo kết quả đầu ra. Bảo đảm dân chủ, cạnh tranh, khách quan, công khai và bình đẳng trong tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ; đổi mới công tác đánh giá kết quả nghiên cứu và tài chính cho nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh cơ chế hợp tác công - tư nhằm nâng cao hiệu quả các dự án đổi mới công nghệ, sáng tạo, nghiên cứu và phát triển. Tăng cường sự liên kết giữa các viện nghiên cứu, trường và doanh nghiệp trong xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ các cấp. Thực hiện các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, tạo nền tảng quan trọng cho đổi mới sáng tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới.
Tích cực thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số, trong đó trọng tâm là xây dựng nền tảng số dùng chung quốc gia, phát triển hệ thống giám sát, điều hành thông minh nhằm tăng cường quản lý công; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hóa và dựa trên dữ liệu. Phát triển các nền tảng số an toàn và tăng cường ứng dụng công nghệ số, hình thành công dân số. Xây dựng chính phủ số nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Phát triển kinh tế số để mở ra không gian tăng trưởng mới, dựa trên nền tảng số, thương mại điện tử, dịch vụ số và các mô hình kinh doanh sáng tạo. Xây dựng xã hội số an toàn, lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng đời sống, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, dịch vụ và tham gia quản trị xã hội của người dân. Triển khai sâu rộng phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức số trong cán bộ, công chức và nhân dân, các phong trào khởi nghiệp, sáng tạo, cải tiến nâng cao hiệu quả công việc, năng suất lao động. Phát triển văn hóa số nhằm bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, giảm thiểu tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội. Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và chủ quyền quốc gia trên nền tảng số và không gian mạng; an ninh, an toàn dữ liệu hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và chủ quyền an ninh dữ liệu quốc gia.
Năm là, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và sức sáng tạo của nền kinh tế.
Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo với các giải pháp về con người, công nghệ và thị trường theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng; trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi cho sáng tạo; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của quá trình đổi mới, trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; viện nghiên cứu và trường đại học là nơi tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và cung cấp giải pháp khoa học, công nghệ cho thực tiễn phát triển. Thúc đẩy liên kết giữa hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, ngành, vùng gắn với các chuỗi giá trị, mạng lưới đổi mới sáng tạo khu vực và toàn cầu. Phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành, vùng, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và khu công nghệ cao - “hạt nhân” thúc đẩy sự lan tỏa tri thức, công nghệ và tinh thần sáng tạo trong toàn xã hội. Triển khai mạnh mẽ các nền tảng đổi mới sáng tạo mở, mạng lưới đổi mới sáng tạo mở nhằm thu hút mọi nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao sức sáng tạo của nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
PGS, TS NGUYỄN NGỌC HÀ - TS TRƯƠNG THỊ HỒNG NGA
Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản - Trường Đại học Xây dựng miền Tây
--------------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 75
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 121
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr. 79
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 107
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Sđd, tr. 187
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 112
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 210
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 119 - 120
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 203 - 204
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr. 80 - 81
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 144 - 145
(12) Vũ Tuân: “Tổng Bí thư: Đổi mới mô hình phát triển phải đứng trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam”, VnExpress, ngày 7-1-2026, https://vnexpress.net/tong-bi-thu-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-phai-dung-tren-manh-dat-thuc-tien-viet-nam-5002903.html
Theo Tạp chí cộng sản