(Mặt trận) - Cùng với xác lập rõ hơn trách nhiệm pháp lý trong thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát, yêu cầu đặt ra là cần xây dựng hệ thống dữ liệu điện tử tập trung, thống nhất trên toàn quốc; cập nhật thường xuyên tiến độ thực hiện; xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành. Hệ thống này không chỉ phục vụ theo dõi, đánh giá mà còn tạo nền tảng cho việc phân tích dữ liệu lớn, dự báo xu hướng, nhận diện các lĩnh vực có nguy cơ chậm thực hiện hoặc tồn đọng kéo dài.
 |
| Đoàn giám sát Ban Văn hóa - Xã hội HĐND tỉnh Thái Nguyên giám sát tại Điểm du lịch cộng đồng Khuân Bang, xã Chợ Mới. Ảnh: Thu Cúc |
Đây sẽ là công cụ quan trọng góp phần hiện đại hóa hoạt động giám sát, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Xác lập rõ hơn trách nhiệm pháp lý trong thực hiện
Nâng cao hiệu quả thực hiện các nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát của cơ quan dân cử là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị đất nước. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2025 đã có những bước tiến quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; quy định về theo dõi, đôn đốc và xem xét việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát. Tuy nhiên, nhiều nội dung vẫn cần được tiếp tục cụ thể hóa để bảo đảm tính thực thi trên thực tế. Trọng tâm là phải chuyển từ tư duy “giám sát để kiến nghị” sang tư duy “giám sát để tạo ra sự thay đổi thực chất trong quản trị quốc gia”.
Theo nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, GS.TS. Phan Trung Lý, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản liên quan nhằm xác lập rõ hơn trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát. Mỗi kiến nghị giám sát phải được xác định rõ chủ thể, thời hạn thực hiện, trách nhiệm báo cáo và trách nhiệm giải trình khi không hoàn thành.
Bên cạnh đó, hoàn thiện cơ chế gắn kết giữa kết quả thực hiện kiến nghị giám sát với việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội và HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Mức độ hoàn thành các nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát cần được xem là một tiêu chí quan trọng phản ánh năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành và trách nhiệm chính trị của người được lấy phiếu tín nhiệm. Điều này không chỉ nâng cao trách nhiệm cá nhân mà còn góp phần tạo động lực mạnh mẽ để các cơ quan, tổ chức nghiêm túc thực hiện các yêu cầu giám sát.
Đồng thời, cần luật hóa đầy đủ cơ chế hậu giám sát; bổ sung các quy định về tái giám sát, giám sát lại đối với những nội dung chậm được khắc phục; quy định rõ trình tự, thủ tục xem xét trách nhiệm đối với các trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ kết luận, kiến nghị giám sát… bảo đảm hoạt động giám sát thực sự phát huy hiệu lực trong kiểm soát quyền lực nhà nước.
Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
Trong điều kiện đẩy mạnh chuyển đổi số, việc hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát là yêu cầu cấp thiết. Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, GS.TS. Phan Trung Lý nhấn mạnh: cần xây dựng hệ thống dữ liệu điện tử tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, kết nối giữa Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan. Mỗi kết luận, kiến nghị giám sát cần được gắn với mã số quản lý riêng; cập nhật thường xuyên tiến độ thực hiện; xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.
Hệ thống này không chỉ phục vụ công tác theo dõi, đánh giá mà còn tạo nền tảng cho việc phân tích dữ liệu lớn, dự báo xu hướng, nhận diện các lĩnh vực có nguy cơ chậm thực hiện hoặc tồn đọng kéo dài. Đây sẽ là công cụ quan trọng góp phần hiện đại hóa hoạt động giám sát, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, mỗi kết luận hoặc kiến nghị giám sát phải được lượng hóa bằng các mục tiêu cụ thể, các chỉ số đánh giá rõ ràng, thời hạn thực hiện xác định và sản phẩm đầu ra có thể kiểm chứng được. Chẳng hạn, đối với kiến nghị sửa đổi văn bản pháp luật phải xác định rõ thời điểm trình dự án luật hoặc nghị định; đối với kiến nghị xử lý các dự án chậm tiến độ phải xác định rõ số lượng dự án cần xử lý và thời hạn hoàn thành; đối với kiến nghị khắc phục sai phạm phải xác định rõ kết quả cần đạt được. Việc đánh giá dựa trên kết quả đầu ra sẽ giúp nâng cao tính khách quan, hạn chế tình trạng báo cáo thành tích, đồng thời tạo cơ sở khoa học xem xét trách nhiệm của các cơ quan chịu sự giám sát.
Đặc biệt, kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, ở đâu người đứng đầu quyết liệt, ở đó các kết luận, kiến nghị giám sát được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả hơn. Do vậy, việc xác lập rõ nguyên tắc người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm chính về kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận và kiến nghị giám sát thuộc phạm vi quản lý của mình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Kết quả thực hiện kiến nghị giám sát cần được đưa vào hệ thống tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; là căn cứ quan trọng trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, khen thưởng, kỷ luật và lấy phiếu tín nhiệm. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế giải trình trực tiếp của người đứng đầu với các nội dung chậm thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả.
Thực tiễn cho thấy, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan báo chí và Nhân dân trong theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện các kiến nghị giám sát của cơ quan dân cử. Cùng với đó, mở rộng việc công khai thông tin về tiến độ thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát trên môi trường số; tạo điều kiện để người dân tham gia phản biện, cung cấp thông tin và giám sát quá trình thực hiện. Việc tăng cường giám sát của xã hội sẽ tạo áp lực tích cực, góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi các quyết định giám sát.
Theo Đại biểu nhân dân