Tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong tổ chức bộ máy tinh gọn của hệ thống chính trị

(Mặt trận) - Trong tổ chức và vận hành tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, việc tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền là yêu cầu tất yếu khách quan. Để làm được điều này, cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý và bảo đảm việc tổ chức thực thi các cơ chế kiểm soát quyền lực và về trách nhiệm giải trình đạt hiệu quả, chất lượng trên thực tế.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ký ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng

Kiểm tra công tác thi hành án hình sự tại Đắk Lắk: Bảo đảm đúng pháp luật, kiến nghị tháo gỡ áp lực quá tải trại giam

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn: Bước chuyển sang tư duy quản trị đô thị hiện đại và kiến tạo phát triển

 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đoàn công tác Trung ương đến thăm và làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh_Ảnh: TTXVN

Tính tất yếu khách quan của việc tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong tổ chức bộ máy tinh gọn của hệ thống chính trị

Kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình là nguyên tắc, cũng là giá trị cốt lõi trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta. Sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo thế và lực cho đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, kém hiệu quả, đặt ra yêu cầu và đòi hỏi cấp bách phải thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị với mục tiêu “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”. Theo đó, việc tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn của hệ thống chính trị là một yêu cầu tất yếu khách quan, bởi vì:

Trước hết, trong bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, quyền lực được tập trung cao hơn, nhiều hơn vào một cấp, một người trong tổ chức và hoạt động.

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là quá trình cải cách làm giảm thiểu quy mô, số lượng các cơ quan, tổ chức, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy. Nội dung của mục tiêu này là gọn về số lượng các cơ quan, tổ chức trong bộ máy hệ thống chính trị và gọn đầu mối bên trong các cơ quan, tổ chức đó. Để thực hiện mục tiêu tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc “một cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính”. Theo đó, các cơ quan, tổ chức và cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, tổ chức sẽ được giao nhiệm vụ và quyền hạn nhiều hơn, tập trung hơn, cao hơn. Ở Trung ương, Quốc hội chỉ còn Hội đồng dân tộc và 7 ủy ban (giảm 2 ủy ban); bộ máy Chính phủ nhiệm kỳ 2021 - 2026 chỉ còn 17 bộ, ngành (giảm 5 bộ); các cơ quan của Đảng sau sắp xếp, tinh gọn cũng giảm 4 cơ quan trực thuộc Trung ương, 25 ban cán sự đảng; nhiệm vụ và quyền hạn của các ban, bộ, ngành ở Trung ương được tập trung nhiều hơn.

Xuất phát từ tầm nhìn chiến lược phát triển đất nước lâu dài, Đảng ta chủ trương xây dựng và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp: cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương); cấp xã (xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố). Số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh sau sáp nhập là 34 (28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc Trung ương); số lượng đơn vị hành chính cấp xã giảm từ 10.035 xuống còn 3.321 (2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu), giảm 6.714 đơn vị hành chính cấp xã (đạt tỷ lệ giảm 66,9%). Với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp tỉnh vừa là cấp thực hiện chủ trương, chính sách từ Trung ương, vừa là cấp ban hành thể chế, chính sách trên địa bàn tỉnh, thành phố và trực tiếp chỉ đạo, quản lý các hoạt động của cấp xã trên địa bàn. Cấp xã là cấp chủ yếu thực hiện chủ trương, chính sách do Trung ương và cấp tỉnh ban hành; đồng thời, được tăng cường phân cấp, phân quyền và có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quyết định việc tổ chức và thi hành pháp luật trên địa bàn cũng như quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền. Qua rà soát của Bộ Nội vụ, 85% số nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp huyện trước đây được chuyển giao cho chính quyền cấp xã và 15% số nhiệm vụ, quyền hạn được chuyển giao cho chính quyền cấp tỉnh. Khi nhiệm vụ và quyền hạn tập trung cao hơn, nhiều hơn cho mỗi cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu thì việc tăng cường các cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân càng phải được coi trọng và tiến hành thường xuyên.

Hai là, trong tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, phạm vi và nội dung lãnh đạo, quản lý được giao cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân là rộng hơn, đa dạng hơn.

Sau sắp xếp, quy mô diện tích và dân số của cấp tỉnh có nhiều thay đổi, nhiều tỉnh, thành phố được mở rộng địa giới hành chính. Chẳng hạn, tỉnh Lâm Đồng mới (hợp nhất từ tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Ninh Thuận cũ) trở thành địa phương rộng lớn nhất cả nước với diện tích trên 24.200km2; tỉnh Gia Lai mới (hợp nhất từ tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định cũ) có diện tích 21.500km2; tỉnh Đắk Lắk mới (hợp nhất từ tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên cũ) có diện tích 18.000km2; tỉnh Bắc Ninh cũ, vốn là tỉnh nhỏ nhất cả nước, sau hợp nhất với tỉnh Bắc Giang cũng có quy mô rộng lớn hơn, với diện tích trên 4.000 km2… Đối với đơn vị hành chính cấp xã, quy mô dân số và diện tích tự nhiên cũng tăng lên đáng kể, đạt từ 300% trở lên so với tiêu chuẩn cấp xã theo quy định trước khi thực hiện sắp xếp.

Như vậy, đối với hệ thống chính trị địa phương, phạm vi lãnh thổ được giao lãnh đạo, quản lý cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân là rộng lớn hơn rất nhiều so với trước kia. Điều đó không những đòi hỏi phải nâng cao năng lực và trách nhiệm của hệ thống chính trị mà còn phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời khắc phục những thiếu sót, hạn chế trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn và đông dân cư của mỗi địa phương.

Sau sắp xếp các đơn vị hành chính, nguồn lực cho sự phát triển cũng được tập trung hơn, không gian phát triển được mở rộng, kiến tạo sức mạnh kinh tế tổng hợp mới cho các địa phương. Đặc biệt, một số tỉnh mới sẽ mở rộng không gian phát triển hướng ra biển (khi sáp nhập tỉnh có biển với tỉnh không có biển), hay gắn gần hơn với các cực tăng trưởng, giúp mở rộng dư địa hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng cường kết nối giao thông và đầu tư giữa các địa phương, tăng cường hoạt động xuất, nhập khẩu. Chính quyền cấp tỉnh trở thành cấp có thẩm quyền quy hoạch tổng thể sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, với phạm vi, không gian phát triển rộng lớn hơn. Cấp xã được ví như là một “pháo đài sản xuất” và là “lực lượng sản xuất chính”, trở thành khởi nguồn cho các chương trình phát triển, từ các dự án hạ tầng cho đến các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương… Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp khuyến khích sự năng động hóa các nguồn lực tại chỗ, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo. Theo đó, nội dung lãnh đạo quản lý của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền không ngừng được mở rộng và đa dạng hơn, đòi hỏi phải tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc hệ thống chính trị.

Ba là, trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành của từng cấp chính quyền và của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nặng nề hơn, đòi hỏi phải có phẩm chất, năng lực cao hơn.

Với quyền lực tập trung cao hơn, nhiều hơn vào một cấp, một người, phạm vi và nội dung chỉ đạo, quản lý, điều hành được giao rộng hơn, đa dạng hơn như đã phân tích ở trên, do đó, trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành của từng cấp chính quyền và của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cũng nặng nề hơn, đòi hỏi phải có phẩm chất, năng lực cao hơn.

Việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là sự kết hợp chặt chẽ giữa số lượng và chất lượng. Theo đó, số lượng ít nhưng tinh, đủ phẩm chất, đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn là phải gắn với việc xác định vị trí việc làm, xóa bỏ các tầng nấc trung gian và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, có cơ chế hữu hiệu để sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và thu hút, trọng dụng những người có năng lực nổi trội, “không để cơ quan nhà nước là “vùng trú ẩn an toàn” cho cán bộ yếu kém”(1). Tổ chức bộ máy không có sự chồng chéo, phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm, không “lấn sân”, không cản trở, không vô hiệu hóa lẫn nhau; tăng cường tính chủ động, sáng tạo, xử lý nhanh nhạy các thông tin; thời gian thực hiện công vụ ít nhất nhưng mang lại năng suất, hiệu quả cao nhất… Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong tổ chức bộ máy tinh gọn, như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, “phải hội tụ đủ đức, đủ tài, đủ tâm, đủ tầm, đủ sức, đủ nhiệt huyết cách mạng để gánh vác trọng trách lịch sử đất nước”(2). Theo đó, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, không thể không coi trọng việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và nâng cao trách nhiệm giải trình, bảo đảm để bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả, góp phần nâng cao trách nhiệm, năng lực chỉ đạo, quản lý, điều hành của từng cấp chính quyền và của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý; đồng thời, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ.

Bốn là, chính quyền địa phương sau khi được sắp xếp, vận hành theo mô hình 2 cấp, phải bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, đáp ứng yêu cầu quản trị xã hội hiện đại, thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững, tạo thế và lực mới cho sự phát triển.

Để góp phần bảo đảm được những yêu cầu, đòi hỏi đó, ngay từ khi tiến hành và trong cả quá trình của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, phải tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình, gắn quyền lực với trách nhiệm cá nhân, không để xảy ra tình trạng mất đoàn kết, lợi ích nhóm, cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí trong sắp xếp tổ chức bộ máy ở các đơn vị hành chính thuộc chính quyền địa phương 2 cấp.

Một số quan điểm và giải pháp chủ yếu tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong bộ máy tinh gọn của hệ thống chính trị

Một số quan điểm mang tính nguyên tắc

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt từ các cấp ủy, tổ chức đảng. Kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tinh gọn là vấn đề chính trị - pháp lý mới, có vai trò đặc biệt quan trọng, xuất phát từ mục tiêu xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”. Để tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, đòi hỏi sự thống nhất và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, trong đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của các cấp ủy, tổ chức đảng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, mang tính quyết định. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu các cấp chính quyền, nhất là cấp cơ sở; coi trọng việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Các tổ chức đảng, đảng viên phải luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; công khai, minh bạch các hoạt động của hệ thống chính trị; không để xảy ra tình trạng mất đoàn kết, lợi ích nhóm, cục bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí trong công tác sắp xếp cán bộ, sắp xếp tổ chức bộ máy…

Hai là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật đi đôi với kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật để vừa làm phương tiện tháo gỡ các “điểm nghẽn”, mở đường cho việc thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, vừa làm phương tiện để kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy mới. Đi đôi với xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật, phải tiến hành kiểm soát việc tổ chức thi hành pháp luật. Tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động để hiện thực hóa kết quả của xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật trong thực tiễn. Hay nói cách khác, nó là đầu ra quan trọng nhất của hoạt động xây dựng, ban hành thể chế, pháp luật. Tổ chức thi hành pháp luật cũng là nhiệm vụ hàng đầu của các cơ quan nhà nước, nhất là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, bảo đảm để Hiến pháp, pháp luật giữ địa vị thống trị trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy được đầy đủ vai trò và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Đồng thời, thông qua việc tổ chức thi hành pháp luật mà phát hiện những lỗ hổng, những quy định pháp luật không phù hợp, không đi vào cuộc sống, góp phần hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội, hoạt động lập quy của Chính phủ và chính quyền địa phương. Chính vì thế, Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30-4-2025, của Bộ Chính trị, "Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" đã xác định “xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và kiểm tra, giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, thường xuyên của các bộ, ngành Trung ương. Thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật, các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm” trong xây dựng và thi hành pháp luật”.

Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan và giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương và giữa các cơ quan trong cùng một cấp. Xây dựng hệ thống chính trị tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả là một cuộc cách mạng đòi hỏi cải cách sâu rộng về quản trị nhà nước, minh bạch hóa, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong hành chính, kinh tế, tài chính - ngân sách và quản lý tài nguyên. Đồng thời, cần tăng tính chủ động, sáng tạo, tự lực và trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp, nhất là người đứng đầu(3)… Theo đó, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm tra, thanh tra và giám sát quyền lực, bảo đảm không để xảy ra lạm dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân là vấn đề hết sức quan trọng trong tổ chức và vận hành tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Muốn vậy, phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong mỗi cơ quan, tổ chức; giữa các cơ quan, tổ chức trong cùng một cấp; của cơ quan, tổ chức cấp trên đối với cơ quan, tổ chức cấp dưới; các cơ chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài, như kiểm soát của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp đối với việc thực thi quyền lực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bốn là, tăng cường trách nhiệm giải trình trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị, bảo đảm để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hoạt động minh bạch, để người dân được biết cán bộ, công chức, viên chức của mình đang làm gì, tạo động lực, tăng cường niềm tin, sự tham gia của nhân dân vào xây dựng hệ thống chính trị. Đây chính là phương thức đặc biệt quan trọng để nhân dân kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, góp phần bảo đảm cho bộ máy gần dân, sát dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Một số giải pháp chủ yếu

Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật đi đôi với tăng cường vận hành đồng bộ các cơ chế kiểm tra, giám sát trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị.

Trước hết, cần hoàn thiện các quy định của Đảng về công tác kiểm tra để hướng dẫn và tăng cường hoạt động của ủy ban kiểm tra các cấp trong kiểm soát quyền lực. Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: Tăng cường vai trò hướng dẫn, giám sát của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với ủy ban kiểm tra các cấp, xác định rõ phạm vi giám sát, công tác kiểm tra chuyên môn để tránh chồng chéo hay sót lọt. Đề cao vai trò, trách nhiệm của ủy ban kiểm tra các cấp đối với kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, trong phát hiện, phòng ngừa những sai phạm, đưa nội hàm chống lãng phí vào công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới(4).

Tiếp tục phân cấp, phân quyền một cách rạch ròi, hợp lý, khoa học trong nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, tổ chức, mỗi cấp chính quyền, mỗi nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp, tư pháp) nhằm hoàn thiện và thực thi đồng bộ các cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong bộ máy nhà nước, bao gồm: kiểm soát bên trong mỗi cơ quan, tổ chức; kiểm soát giữa các cơ quan, tổ chức trong cùng một cấp; kiểm soát của cơ quan, tổ chức cấp trên đối với cơ quan, tổ chức cấp dưới; kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực thật sự hiệu quả. Theo đó, xây dựng, hoàn thiện cơ chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp một cách thực chất, khoa học, khắc phục tính hình thức trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, tiếp tục thể chế hóa các quyền dân chủ trực tiếp của công dân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định, như quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, lập hội, biểu tình (Điều 25); quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30);… để tạo thêm phương tiện và điều kiện pháp lý cho nhân dân với tư cách là công dân tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước.

Kết hợp và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong công tác tổ chức thi hành pháp luật.

Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin và đổi mới phương thức của các cơ chế kiểm soát quyền lực.

Để làm chủ trong quản lý và sử dụng thông tin được số hóa, hoạt động kiểm soát quyền lực đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Thông tin trong môi trường số mang lại và góp phần bảo đảm tính minh bạch thông tin, tạo điều kiện phân tích số liệu một cách chính xác, khách quan để kiểm soát quyền lực hiệu quả. Tuy nhiên, yêu cầu hàng đầu của kiểm soát quyền lực trong môi trường số là tính xác thực thông tin - cốt lõi của quản trị dữ liệu, trong khi quá trình thu thập, xử lý thông tin lại dễ bị can thiệp dẫn đến sai lệch. Thông tin thường dễ bị can thiệp, thổi phồng, phóng đại do bệnh thành tích, hay bệnh ảo trong các giao dịch, làm sai lệch hồ sơ thanh tra, điều tra… Vì thế, để kiểm soát thông tin hiệu quả, phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, không những đòi hỏi các chủ thể phải có trình độ cao, am hiểu công nghệ thông tin, mà còn cần hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, bảo đảm tính thông suốt của hệ thống dữ liệu. Đồng thời, phải đổi mới cách thức và phương pháp kiểm tra, thanh tra, giám sát để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực trong điều kiện xây dựng chính phủ điện tử và chuyển đổi số.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.

Tập trung xây dựng và nâng cao văn hóa tuân thủ pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của hệ thống chính trị. Văn hóa tuân thủ pháp luật bao gồm tri thức về pháp luật, tình cảm đúng đắn, lòng tin sâu sắc vào pháp luật và có động cơ, hành vi tích cực đối với pháp luật.

Nâng cao chất lượng và không ngừng đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời nâng cao năng lực của hệ thống dịch vụ pháp lý, trợ giúp pháp lý và hỗ trợ pháp luật, để người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận pháp luật, chủ động trong quan hệ với các cơ quan nhà nước.

Quy định rõ trách nhiệm pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tổ chức thi hành pháp luật ở cơ quan, tổ chức mình. Chú trọng tiếp nhận, xử lý kịp thời, hiệu quả những kiến nghị, phản ánh của cán bộ, công chức, viên chức cũng như của người dân, doanh nghiệp đối với cơ quan, tổ chức hay cá nhân có chức vụ, quyền hạn.

Thứ tư, hoàn thiện cơ sở pháp lý về trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giải trình trên thực tế.

Trách nhiệm giải trình “là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị cá nhân có thẩm quyền làm rõ thông tin, giải thích kịp thời, đầy đủ về quyết định, hành vi của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao”(5) và phải chịu trách nhiệm về những giải trình đó. Theo đó, trách nhiệm giải trình cũng là một cơ chế kiểm soát quyền lực quan trọng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị; giúp bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân; bao gồm nghĩa vụ báo cáo, giải thích và chịu trách nhiệm về các hành vi, quyết định của mình.

Để tăng cường trách nhiệm giải trình, cần hoàn thiện chế định pháp lý về vấn đề này, bao gồm các quy định về nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, quy trình, quyền và trách nhiệm của các chủ thể chịu trách nhiệm giải trình. Đồng thời, nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giải trình trong thực tế, như hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Theo đó, chất vấn của đại biểu dân cử phải dẫn đến trách nhiệm chính trị - pháp lý đối với người trả lời chất vấn. Tăng thêm các phiên chất vấn, giải trình được tổ chức tại các cơ quan của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp để đề cao trách nhiệm của các bộ, ngành và chính quyền các cấp. Nâng cao năng lực, trách nhiệm giải trình ở các cuộc tiếp dân và tiếp xúc cử tri của cơ quan hành chính nhà nước cấp cơ sở. Trách nhiệm giải trình không chỉ là việc trả lời, giải thích, mà còn bao gồm cả việc nhận trách nhiệm và đưa ra được phương án xử lý, giải quyết các vấn đề, hay khắc phục những sai sót trong quá trình thực thi công vụ. Trong chính quyền địa phương 2 cấp, khi nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cấp chính quyền được mở rộng, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự quản ngày càng cao, mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền càng phải nâng cao trách nhiệm giải trình trước nhân dân, trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và chính quyền cấp trên./.

GS, TS TRẦN NGỌC ĐƯỜNG
Nguyên Trợ lý Chủ tịch Quốc hội, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

-----------------------------

(1) Bài phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; tình hình kinh tế - xã hội năm 2024, giải pháp tăng tốc, phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt về thể chế, Tạp chí Cộng sản, số 1.051 (tháng 12-2024), tr. 7
(2) “Tổng Bí thư Tô Lâm: Tạo mọi điều kiện để Ban Tổ chức Trung ương phát huy tốt vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược đặc biệt quan trọng của Đảng”, Báo Quân đội nhân dân điện tử, ngày 27-5-2025, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/tong-bi-thu-to-lam-tao-moi-dieu-kien-de-ban-to-chuc-trung-uong-phat-huy-tot-vai-tro-la-co-quan-tham-muu-chien-luoc-dac-biet-quan-trong-cua-dang-830197
(3) “Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Chính phủ và chính quyền địa phương”, Báo điện tử Chính phủ, ngày 8-1-2025, https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-chinh-phu-va-chinh-quyen-dia-phuong-102250108155900992.htm
(4) Xem: “Tổng Bí thư Tô Lâm: Đưa nội hàm chống lãng phí vào công tác kiểm tra, giám sát”, Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam, ngày 19-12-2024, https://vov.vn/chinh-tri/tong-bi-thu-to-lam-dua-noi-ham-chong-lang-phi-vao-cong-tac-kiem-tra-giam-sat-post1143225.vov
(5) Khoản 5, Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018