Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng

(Mặt trận) - Chiều 23/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng với 485/492 tổng số ĐBQH có mặt tán thành, đạt tỷ lệ 98,5%.

Chính sách thí điểm phải “6 rõ”, bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả

Đại biểu Quốc hội đề xuất nâng lương cơ sở lên 2,65-2,7 triệu đồng

Kiến trúc là cơ sở cho lĩnh vực nghệ thuật khác thăng hoa, cần cơ chế đột phá phát triển

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng 

Không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng gồm 4 Điều.

Luật sửa đổi, bổ sung điểm c và điểm d khoản 2 Điều 5 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung điểm c, khoản 2 như sau:

“c) Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; thành tích đến đâu khen thưởng đến đó.

Không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức cho một thành tích đạt được, trừ khen thưởng công trạng”;

b) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 như sau:

“d) Chú trọng khen thưởng cá nhân, tập thể, hộ gia đình trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh; cá nhân, tập thể công tác ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; cá nhân, tập thể có thành tích tiêu biểu mang lại hiệu quả thiết thực vì lợi ích chung, đi đầu trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.”.

2. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 8 như sau:

a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

“1. Khen thưởng công trạng là khen thưởng cho cá nhân, tập thể có quá trình phấn đấu liên tục, tích lũy nhiều thành tích, được ghi nhận thông qua việc tổng kết các phong trào thi đua thường xuyên và kết quả đánh giá, xếp loại hàng năm.”;

b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

“3. Khen thưởng phong trào thi đua theo chuyên đề là khen thưởng cho cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua chuyên đề do cấp có thẩm quyền phát động, chỉ đạo trong thời gian cụ thể.

Khen thưởng chuyên đề là khen thưởng thành tích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong thời gian cụ thể.”

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc thi đua, khen thưởng đối với đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội

Luật cũng sửa đổi, bổ sung Điều 88 như sau:

“Điều 88. Trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc thi đua, khen thưởng đối với đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; công chức chuyên trách và các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy Quốc hội; công chức và các Vụ chuyên môn trực thuộc Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.”.

27. Sửa đổi, bổ sung Điều 89 như sau:

“Điều 89. Quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng

1. Nội dung quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng gồm:

a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng;

b) Xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng;

c) Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;

d) Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác thi đua, khen thưởng;

đ) Thẩm định hồ sơ trình xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng;

e) Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng và trong hệ thống thi đua, khen thưởng, xây dựng cơ sở dữ liệu về thi đua, khen thưởng; thực hiện chuyển đổi số trong công tác thi đua, khen thưởng;

g) Phát động, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng; đánh giá hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng;

h) Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng;

i) Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng;

 Các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng

k) Hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng.

2. Trách nhiệm của Chính phủ:

a) Thống nhất quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng;

b) Quy định tỷ lệ số năm được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của tổ chức đảng đối với các hình thức khen thưởng cho tập thể có quy định tiêu chuẩn tổ chức đảng được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong thời gian tính thành tích khen thưởng;

c) Quy định việc xác định tương đương hình thức khen thưởng của Đảng đối với tổ chức đảng, đảng viên với danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng tương ứng theo quy định của Luật này sau khi thống nhất với các cơ quan Đảng ở trung ương;

d) Quy định việc thi đua, khen thưởng của các hội quần chúng có Đảng bộ thuộc Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trung ương sau khi thống nhất với Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”…

Luật có hiệu lực kể từ ngày 1/10/2026. Trường hợp quy định về mức độ đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên có sự thay đổi, Chính phủ quy định việc áp dụng các tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng quy định tại Luật Thi đua, khen thưởng sau khi thống nhất với các cơ quan Đảng ở trung ương.