(Mặt trận) - Sáng 21/10, thảo luận tại Tổ 1 - Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, các đại biểu Quốc hội khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ngăn chặn thuốc lá tiếp cận thanh thiếu niên. Nhìn nhận thẳng thắn vào những vướng mắc thực tiễn - từ nhận diện thuốc lá điện tử, quản lý điểm bán đến nguồn lực thi hành, các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp căn cơ nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả thi khi luật đi vào cuộc sống.
 |
| Quang cảnh phiên thảo luận tại Tổ 1 - Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội sáng 21/10. Ảnh: Văn Tuyến |
Với quan điểm bảo vệ sức khỏe nhân dân, ngăn ngừa việc sử dụng thuốc lá trong thanh thiếu niên và giảm phơi nhiễm khói thuốc là những mục tiêu cần được ưu tiên, các đại biểu nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và cho rằng dự thảo luật đã có những điều chỉnh tích cực. Các quy định về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và một số sản phẩm khác được cụ thể hóa; việc cấm trưng bày và kiểm soát bán hàng trên môi trường điện tử được bổ sung. Chính phủ đã tiếp thu ý kiến thẩm tra, giữ lại các công cụ cấp phép kinh doanh và kiểm soát đầu tư sản xuất thuốc lá. Dự thảo nghị định cũng đã quy định lộ trình mở rộng địa điểm không khói thuốc, tăng diện tích cảnh báo sức khỏe và xác định cơ chế phối hợp liên ngành. Tuy nhiên, Báo cáo tổng kết thi hành Luật cho thấy những hạn chế không chỉ nằm ở thiếu quy định, mà còn ở việc nhận diện sản phẩm, mức tuân thủ tại điểm bán, khả năng tiếp cận dịch vụ cai nghiện và điều kiện thực thi. Vì vậy, các đại biểu đề nghị lần sửa đổi này cần giải quyết đúng nguyên nhân của từng hạn chế. Với các quy định hạn chế hành vi, cần bảo đảm người dân nhận biết được phạm vi phải tuân thủ và cơ quan nhà nước có căn cứ áp dụng thống nhất.
Xác định chính xác phạm vi sản phẩm, hành vi bị cấm và thẩm quyền bổ sung các điều cấm
Theo đại biểu Tô Huy Vũ, khoản 1 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các khái niệm tại Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Khoản 3 Điều 1 đồng thời sửa Điều 9, cấm riêng sản phẩm hoàn chỉnh, thiết bị, bộ phận chứa nguyên liệu và nguyên liệu. Cách thiết kế này có thể ngăn việc tháo rời sản phẩm để né tránh lệnh cấm, đáp ứng một khó khăn đã được nêu trong hồ sơ. Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Y tế cho biết đã có danh mục hàng hóa và mã số phân loại để nhận diện linh kiện dùng cho thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ rõ căn cứ áp dụng và cách phân biệt linh kiện thuộc diện cấm với hàng hóa có nhiều công dụng hợp pháp, bảo đảm việc kiểm tra, xử lý thống nhất cả khi nhập khẩu và khi lưu thông trong nước. Trường hợp các văn bản hiện hành đã quy định đầy đủ thì cần dẫn chiếu rõ trong hồ sơ.
Bên cạnh đó, cũng cần làm rõ cách nhận diện sản phẩm không chứa nicotine và ranh giới giữa nguyên liệu thuốc lá với thuốc, nguyên liệu làm thuốc được phép sử dụng. Không nên để cơ sở thực thi phải tự suy luận từ việc một chất có chứa nicotine sang kết luận đó là nguyên liệu thuốc lá bị cấm. Những tiêu chí quyết định phạm vi điều cấm cần thể hiện đủ rõ trong luật; phương pháp kỹ thuật có thể giao hướng dẫn phù hợp.
Một nội dung nữa được các đại biểu quan tâm là thẩm quyền bổ sung các sản phẩm thuộc phạm vi quản lý và bị cấm sử dụng. Dự thảo luật cho phép Chính phủ quy định thêm sản phẩm thuốc lá, chất thuộc nguyên liệu thuốc lá và sản phẩm bị cấm sử dụng, căn cứ vào "tình hình thực tế". Theo các đại biểu, việc bổ sung này có thể làm thay đổi phạm vi hành vi bị cấm, ảnh hưởng trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp. Vì vậy, đề nghị luật xác định rõ tiêu chí để bổ sung, căn cứ khoa học cần được đánh giá và nguyên tắc công bố trước khi áp dụng. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định cụ thể, vừa bảo đảm phản ứng kịp thời, vừa giúp người dân biết rõ sản phẩm nào thuộc diện quản lý, sản phẩm nào bị cấm và từ thời điểm nào.
Cũng liên quan đến việc cấm sử dụng, khoản 13 Điều 9 cho phép Chính phủ bổ sung các sản phẩm thuốc lá bị cấm sử dụng. Tuy nhiên, khoản 2 lại liệt kê cụ thể những sản phẩm bị cấm sản xuất, kinh doanh, vận chuyển. Vậy khi Chính phủ bổ sung một sản phẩm vào diện cấm sử dụng, các hoạt động cung ứng sản phẩm đó có bị cấm theo hay không? Đề nghị làm rõ ngay trong luật. Nếu chủ trương là cấm cả sản xuất, kinh doanh, vận chuyển thì cần quy định thống nhất giữa hai khoản, tránh mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách.
 |
| Đại biểu Nguyễn Kim Sơn phát biểu. Ảnh: Văn Tuyến |
Các biện pháp giảm tiếp cận thuốc lá cần khắc phục được những hạn chế tại điểm bán
Báo cáo tiếp thu, giải trình của Chính phủ đã nêu phương án về cấm trưng bày thuốc lá, chỉ đưa bảng giá và sản phẩm cho khách xem khi khách hỏi mua. Tuy nhiên, phạm vi cấm trưng bày của dự thảo luật khá rộng, các đại biểu đề nghị bổ sung trong nghị định hướng dẫn thi hành trường hợp được phép xuất trình và cách thực hiện, để người bán biết mình được làm gì, cơ quan kiểm tra cũng có căn cứ áp dụng thống nhất.
Đối với người chưa đủ 18 tuổi, Báo cáo tổng kết thi hành Luật cho thấy việc bán thuốc lá cho nhóm này vẫn phổ biến dù pháp luật đã nghiêm cấm. Do đó, hiệu quả của lần sửa đổi phải được đánh giá ở khả năng thực hiện nghĩa vụ của người bán. Dự thảo bổ sung quyền từ chối bán khi người mua không chứng minh được đủ tuổi là phù hợp. Tuy nhiên, việc thay toàn bộ điểm b khoản 1 Điều 25 làm mất yêu cầu treo biển không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi đang có trong điều khoản hiện hành. Đề nghị giữ lại yêu cầu này để người bán và người mua đều nhận biết rõ quy định.
Bên cạnh đó, dự thảo vẫn giữ khoảng cách 100 mét, nhưng thay danh sách trường học, cơ sở y tế cụ thể bằng "cơ sở giáo dục, cơ sở y tế. Theo các đại biểu, cách viết này có thể mở rộng phạm vi cấm bán sang những cơ sở trước đây chưa được liệt kê, cần giải trình rõ phạm vi mở rộng và cách xử lý đối với các điểm bán đang hoạt động hợp pháp, thay vì chỉ coi đây là việc rút gọn thuật ngữ. Bên cạnh đó đề nghị Chính phủ chỉ rõ cách xác định phạm vi, trách nhiệm công khai và phương án xử lý khi có cơ sở giáo dục, y tế mới xuất hiện gần điểm bán đang hoạt động. Nội dung hướng dẫn kỹ thuật có thể đặt ở văn bản dưới luật; điều cần bảo đảm là người dân biết căn cứ tuân thủ và cơ quan quản lý áp dụng thống nhất.
Kiểm soát nguồn cung và chất lượng sản phẩm phải thống nhất với mục tiêu giảm tác hại
Nhận định việc bỏ tiêu chí "năng lực sản xuất" là bước đi cần thiết nhằm khắc phục tình trạng mở rộng quy mô sản xuất vượt kiểm soát, tuy nhiên, nếu khái niệm "nhu cầu của thị trường" không được định lượng bằng nguyên tắc luật định, quy định sẽ dễ tạo ra sự tùy nghi trong quản lý hoặc mâu thuẫn trực tiếp với mục tiêu y tế công cộng, đại biểu đề nghị Chính phủ giải trình rõ "nhu cầu của thị trường" được xác định như thế nào: dựa trên số liệu tiêu thụ, dự báo nhu cầu hay có tính đến mục tiêu giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá? Từ nhu cầu chung đó, sản lượng được phân bổ cho từng doanh nghiệp theo nguyên tắc nào và được điều chỉnh ra sao để vừa bảo đảm công khai, minh bạch giữa các doanh nghiệp, vừa thống nhất với mục tiêu kiểm soát thuốc lá.
Bên cạnh đó cần quy định rõ về căn cứ quản lý chất lượng sản phẩm, làm rõ chủ thể có trách nhiệm công bố và trách nhiệm của các cơ sở còn lại, trên nguyên tắc giảm thiểu thủ tục hành chính, tránh yêu cầu công bố lặp lại đối với cùng một sản phẩm, đồng thời vẫn bảo đảm kiểm tra và truy được trách nhiệm khi có vi phạm.
Để có cơ sở đánh giá đầy đủ mức độ đáp ứng mục tiêu sửa đổi, đại biểu đề nghị bổ sung bảng đối chiếu từng hạn chế trong Báo cáo tổng kết thi hành Luật với giải pháp tương ứng: nội dung nào được xử lý trong luật, nội dung nào đã có ở pháp luật khác, nội dung nào giao nghị định hoặc tổ chức thực hiện, nội dung nào còn cần lộ trình tiếp theo với trọng tâm hoàn thiện là xác định rõ phạm vi các điều cấm; làm cho cơ chế bảo vệ người chưa thành niên thực hiện được; bảo đảm tiếp cận hỗ trợ cai nghiện; và chuẩn bị đồng bộ quy định hướng dẫn, nguồn lực thi hành. Những yêu cầu này sẽ giúp các công cụ mới phát huy hiệu quả bảo vệ sức khỏe, đồng thời bảo đảm người dân và doanh nghiệp có thể nhận biết, tuân thủ đúng pháp luật.
Theo Quochoi.vn