Hoàn thiện quy định về quản lý sản xuất, kinh doanh và kiểm soát các sản phẩm thuốc lá

(Mặt trận) - Sáng 21/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại Tổ 16 về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, các đại biểu thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang đề nghị hoàn thiện quy định về bảo vệ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, tăng cường quản lý các sản phẩm thuốc lá.

Đại biểu Vũ Văn Tiến: Để chủ đầu tư không muốn, không dám và không thể vi phạm

Siết trách nhiệm chủ đầu tư, bảo vệ quyền lợi người mua bất động sản

Thu hồi đất phải gắn với phục hồi sinh kế

 Quang cảnh cuộc họp Tổ 16 gồm Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang

Bảo đảm chính sách phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số

Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Cà Thị Thắm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu, bày tỏ cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ sức khỏe người dân.

Nghiên cứu khoản 4 Điều 3 của dự thảo Luật, nhằm bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung cụm từ “người dân tộc thiểu số” vào quy định này. Theo đó, đại biểu đề xuất chỉnh lý thành: “Bảo đảm quyền của mọi người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số và các đối tượng dễ bị tổn thương, được sống, làm việc trong môi trường không có khói thuốc lá; được thông tin đầy đủ về tác hại của thuốc lá, bao gồm cả thông tin bằng tiếng dân tộc với nội dung và hình thức phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số”.

Theo đại biểu, thực tế, đồng bào tại nhiều địa bàn còn gặp khó khăn về ngôn ngữ, điều kiện kinh tế, địa lý và khả năng tiếp cận thông tin. Vì vậy, việc quy định rõ đối tượng sẽ tạo cơ sở để triển khai các hoạt động truyền thông phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa và điều kiện thực tế, góp phần nâng cao nhận thức, phòng ngừa tác hại của thuốc lá và bảo đảm chính sách được thực hiện hiệu quả.

Đại biểu Cà Thị Thắm, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu phát biểu 

Đại biểu Cà Thị Thắm cũng cho biết, dự thảo Luật yêu cầu các cơ sở sản xuất, kinh doanh những sản phẩm này phải công bố tiêu chuẩn, áp dụng theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Tuy nhiên, hồ sơ thẩm tra hiện chưa có quy chuẩn kỹ thuật tương ứng đối với các sản phẩm nêu trên.

Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ căn cứ, tiêu chí để các cơ sở xây dựng và công bố tiêu chuẩn áp dụng; đồng thời đánh giá tính khả thi, chi phí tuân thủ và trách nhiệm kiểm tra, xử lý vi phạm.

“Đặc biệt, cần đánh giá tác động đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, hộ gia đình và cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, đảm bảo quy định rõ ràng, dễ thực hiện, chi phí tuân thủ phù hợp, không tạo thêm khó khăn cho người dân và cơ sở sản xuất, kinh doanh”, đại biểu nhấn mạnh.

Nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát việc sử dụng thuốc lào

Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu Hoàng Quốc Khánh phát biểu 

Cho ý kiến về dự án Luật, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu Hoàng Quốc Khánh đề cập thực trạng sử dụng thuốc lào tại nhiều vùng nông thôn và một số khu vực đô thị, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát trong thực tiễn.

"Hút thuốc lào vẫn là thói quen khá phổ biến trong sinh hoạt của một bộ phận người dân. Không khó để bắt gặp hình ảnh điếu cày tại các quán nước, hàng ăn, nơi tập trung đông người; thậm chí, một số cơ sở kinh doanh còn bố trí sẵn thuốc lào và dụng cụ hút để phục vụ khách", đại biểu nêu lên tình hình thực tế.

Đáng quan tâm, việc hút thuốc lào không chỉ gây tác hại đối với sức khỏe của người trực tiếp sử dụng mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh do tiếp xúc với khói thuốc.

Về quy định pháp luật hiện hành, theo khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, được hợp nhất tại Văn bản số 11/VBHN-VPQH ngày 06/02/2026 của Văn phòng Quốc hội, thuốc lào đã được xác định là một dạng sản phẩm thuốc lá. Theo đó, các quy định về địa điểm cấm hút thuốc tại Điều 11, Điều 12 và trách nhiệm của người quản lý địa điểm cấm hút thuốc tại Điều 14 dự thảo Luật cũng áp dụng đối với thuốc lào.

Tuy nhiên, đại biểu Hoàng Quốc Khánh cho rằng, dù pháp luật đã có quy định điều chỉnh đối với thuốc lào, hiệu quả quản lý, kiểm soát việc sử dụng trong thực tiễn vẫn cần được đánh giá đầy đủ. Đại biểu nhấn mạnh không thể chỉ tập trung kiểm soát thuốc lá điếu mà xem nhẹ thuốc lào, bởi cả hai đều gây tác hại đối với sức khỏe và đã thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật. Nếu quy định pháp luật đã bao quát nhưng thiếu biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp thì mục tiêu phòng, chống tác hại của thuốc lá khó đạt được một cách toàn diện.

Từ đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung điểm c khoản 2 Điều 14, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, người quản lý địa điểm cấm hút thuốc trong việc không bố trí, cung cấp thuốc lào và dụng cụ hút thuốc lào để khách sử dụng tại những địa điểm bị cấm; đồng thời có trách nhiệm nhắc nhở, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm.

Đại biểu cũng kiến nghị nghiên cứu bổ sung quy định tại Điều 25 về quản lý hoạt động bán thuốc lào dưới dạng rời, nhất là việc kiểm soát độ tuổi người mua và hình thức cung cấp thông tin cảnh báo tác hại đối với sức khỏe phù hợp với đặc điểm kinh doanh loại sản phẩm này.

Bên cạnh đó, cần rà soát các quy định về kiểm tra, xử lý vi phạm, bảo đảm xác định rõ hành vi vi phạm, trách nhiệm của người quản lý cơ sở và cơ quan có thẩm quyền xử lý, tránh tình trạng quy định trách nhiệm nhưng thiếu cơ chế thực hiện.

Theo đại biểu, điều quan trọng là phải chuyển từ quy định trên giấy tờ sang kiểm soát được hành vi trong thực tế, xác định rõ trách nhiệm và có chế tài đủ sức bảo đảm thực thi.

Cân nhắc tính phù hợp của quy định cấm trưng bày sản phẩm thuốc lá

Góp ý về dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu, cho biết dự thảo lần này có điểm mới là quy định cơ sở bán thuốc lá không được trưng bày sản phẩm thuốc lá.

Đại biểu khẳng định phòng, chống tác hại của thuốc lá là chủ trương cần thiết. Tuy nhiên, theo đại biểu, nếu không được trưng bày sản phẩm thì cả người mua và người bán đều không thể trực tiếp nhìn thấy, nhận diện sản phẩm đang được giao dịch.

Trong khi đó, thuốc lá được sản xuất phải có công bố quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng. Do vậy, người mua cần có khả năng tiếp cận thông tin để biết mình đang mua sản phẩm gì, đặc điểm và chất lượng sản phẩm ra sao. Nếu không được nhìn thấy sản phẩm, người mua có thể gặp khó khăn trong việc nhận diện, phân biệt các loại thuốc lá.

Từ đó, đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu, đánh giá kinh nghiệm quốc tế, làm rõ các quốc gia trên thế giới có áp dụng hình thức quản lý tương tự hay không. Trường hợp đây là biện pháp đã được áp dụng và chứng minh tính hiệu quả, Việt Nam có thể nghiên cứu thực hiện nghiêm túc, phù hợp với điều kiện trong nước.

Ngược lại, nếu hoạt động thương mại không cho phép người mua nhìn thấy sản phẩm thì cần đánh giá kỹ cách thức giao dịch sẽ diễn ra, cũng như khả năng nhận diện sản phẩm của người tiêu dùng.

Kiểm soát năng lực sản xuất và nguồn cung thuốc lá

 

Nhấn mạnh vấn đề kiểm soát năng lực sản xuất và nguồn cung thuốc lá, đại biểu Trương Hồ Hải, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc giữ quy định về quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá và tiếp tục quản lý giấy cuốn điếu thuốc lá.

Theo đại biểu, phòng, chống tác hại của thuốc lá phải được thực hiện đồng thời bằng hai nhóm giải pháp: giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát nguồn cung. Nếu chỉ chú trọng giảm nhu cầu mà không kiểm soát năng lực sản xuất, sản lượng thuốc lá đưa ra thị trường vẫn có thể gia tăng.

Vì vậy, kiểm soát nguồn cung không thể chỉ dừng ở việc quản lý từng máy móc, thiết bị riêng lẻ mà phải hướng đến kiểm soát tổng năng lực sản xuất, công suất dây chuyền và sản lượng thực tế.

“Quản lý máy móc là công cụ; kiểm soát năng lực sản xuất và sản lượng mới là mục tiêu. Nếu chỉ quản lý việc đầu tư, nhập khẩu hoặc sử dụng từng thiết bị mà không kiểm soát tổng công suất, việc thay thế máy móc, nâng cấp dây chuyền hoặc tổ chức lại sản xuất vẫn có thể làm gia tăng sản lượng”, đại biểu cho biết.

Đối với giấy cuốn điếu thuốc lá, đại biểu Trương Hồ Hải cho rằng đây là đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất thuốc lá điếu. Việc quản lý loại nguyên liệu này giúp cơ quan nhà nước theo dõi, đối chiếu lượng đầu vào với năng lực sản xuất và sản lượng thành phẩm; đồng thời hỗ trợ truy xuất chuỗi cung ứng, phát hiện dấu hiệu sản xuất vượt mức hoặc không được kiểm soát.

Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị hoàn thiện khái niệm “nguyên liệu thuốc lá” tại điểm b khoản 3 Điều 2 của dự thảo Luật. Cụ thể, cần nghiên cứu bổ sung rõ nhóm chất không chứa nicotine được sản xuất hoặc sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các dạng thuốc lá khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

Theo đại biểu, nếu khái niệm nguyên liệu thuốc lá chỉ bao quát các chất có chứa nicotine thì có thể phát sinh khoảng trống pháp lý đối với sản phẩm thuốc lá điện tử không chứa nicotine. Trong khi đó, khái niệm nguyên liệu lại liên quan trực tiếp đến việc xác định phạm vi sản phẩm thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật.

“Định nghĩa nguyên liệu quá hẹp có thể dẫn đến phạm vi điều chỉnh của Luật không bao quát đầy đủ các sản phẩm cần quản lý”, đại biểu lưu ý.

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

 Đại biểu Trương Hồ Hải, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang phát biểu

Cho ý kiến về quy định cấm toàn diện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm thuốc lá mới tại Điều 2 và Điều 9 của dự thảo Luật, đại biểu Phạm Văn Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang, đánh giá cao việc dự thảo đã luật hóa lệnh cấm tuyệt đối đối với các hành vi sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, shisha và túi ngậm nicotine; đồng thời đồng bộ hóa ngay với danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh tại Luật Đầu tư.

“Đây là lá chắn pháp lý quan trọng để bảo vệ thế hệ trẻ trước nguy cơ ma túy núp bóng dung dịch điện tử”, đại biểu nhấn mạnh.

Để bảo đảm pháp luật đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo quy định rõ hơn cơ chế phối hợp liên ngành, tạo điều kiện để Chính phủ kịp thời nhận diện và cập nhật các biến thể sản phẩm chứa nicotine thế hệ mới phát sinh trong thực tiễn mà không phải chờ sửa luật.

Đối với quy định cấm trưng bày thuốc lá thông thường và kiểm soát độ tuổi người mua bằng VNeID, đại biểu cho biết dự thảo bổ sung hành vi bị nghiêm cấm là “trưng bày thuốc lá thông thường” tại các điểm bán, đồng thời yêu cầu người bán kiểm tra căn cước hoặc ứng dụng VNeID khi nghi ngờ người mua dưới 18 tuổi.

Đại biểu Phạm Văn Thắng bày tỏ hoàn toàn ủng hộ mục tiêu giảm tính sẵn có và sức hấp dẫn thị giác của thuốc lá. Tuy nhiên, theo đại biểu, cả nước hiện có nhiều điểm bán lẻ là tiệm tạp hóa nhỏ lẻ, hộ kinh doanh gia đình. Nếu việc kiểm tra VNeID hoặc xóa bỏ hoàn toàn tủ trưng bày tại các điểm bán này không có hướng dẫn cụ thể, quy định sẽ khó đi vào thực tiễn.

Từ đó, đại biểu kiến nghị cần có lộ trình chuyển đổi hợp lý, quy định rõ quy cách lưu giữ thuốc lá kín đáo tại điểm bán, đồng thời gắn trách nhiệm hậu kiểm trực tiếp cho chính quyền cơ sở.