Giải pháp phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động trong tình hình mới

(Mặt trận) - Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với công tác Mặt trận ngày càng cao hơn. Đại hội XIV của Đảng mở ra tầm nhìn phát triển mới đến năm 2030, tầm nhìn 2045; nhiệm kỳ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2026-2031 diễn ra trong bối cảnh cả hệ thống chính trị tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, đồng thời phải ứng phó hiệu quả với những thách thức mới từ hội nhập quốc tế, an ninh phi truyền thống, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Tình hình mới đó đòi hỏi vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp phải được phát huy mạnh mẽ hơn, thực chất hơn và hiện đại hơn.

Người lao động được nghỉ và hưởng nguyên lương vào ngày 24/11 – Ngày Văn hoá Việt Nam

Xã Mỹ Thủy, tỉnh Quảng Trị: Khẳng định vai trò của Mặt trận trong giám sát và phản biện xã hội

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng

100% Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hà Nội biểu quyết nhất trí kiện toàn, bổ sung đồng chí Trần Thị Phương Hoa là Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam TP, giữ chức danh Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ TP Hà Nội khoá XVIII, nhiệm kỳ 2025-2030 

Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp giữ vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo đồng thuận xã hội và củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Một trong những phương thức hoạt động đặc thù làm nên bản sắc của Mặt trận là hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên. Trong đó, việc chủ trì hiệp thương để xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình hành động có ý nghĩa đặc biệt, bởi đây là khâu trực tiếp chuyển hóa chủ trương lớn thành chương trình phối hợp cụ thể, tạo nền tảng cho hành động thống nhất trong toàn hệ thống Mặt trận.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với công tác Mặt trận ngày càng cao hơn. Đại hội XIV của Đảng mở ra tầm nhìn phát triển mới đến năm 2030, tầm nhìn 2045; nhiệm kỳ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2026-2031 diễn ra trong bối cảnh cả hệ thống chính trị tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, đồng thời phải ứng phó hiệu quả với những thách thức mới từ hội nhập quốc tế, an ninh phi truyền thống, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Tình hình mới đó đòi hỏi vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp phải được phát huy mạnh mẽ hơn, thực chất hơn và hiện đại hơn.

Vì vậy, bàn về phương hướng và các giải pháp phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động trong tình hình mới thực chất là bàn về một phương thức để nâng cao năng lực tập hợp, điều hòa, kết nối, dẫn dắt và kiến tạo đồng thuận trong toàn hệ thống Mặt trận; qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn mới.

I. Phương hướng phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động trong tình hình mới

Bước vào nhiệm kỳ 2026-2031, phương hướng phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động phải được xác lập trên cơ sở quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, bám sát yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận, đồng thời thích ứng kịp thời với những biến đổi lớn của đời sống chính trị - xã hội. Trước hết, cần nhận thức rõ rằng chủ trì hiệp thương không đơn thuần là tổ chức hội nghị để thống nhất nội dung phối hợp, mà là quá trình định hướng, kết nối, điều hòa lợi ích, tập hợp trí tuệ và tổ chức sức mạnh của các tổ chức thành viên vào một chương trình hành động chung. Vì thế, phương hướng lớn nhất là tiếp tục khẳng định và nâng cao vai trò trung tâm của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong việc kiến tạo sự thống nhất ý chí và hành động, bảo đảm chương trình hành động của Mặt trận thật sự là kết tinh của yêu cầu chính trị, đòi hỏi thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân.

Phương hướng thứ hai là phát huy mạnh mẽ bản chất dân chủ, tính đồng thuận và tính hành động của hiệp thương. Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu phát huy dân chủ không dừng ở việc lắng nghe ý kiến, mà phải chuyển thành cơ chế để các ý kiến được tiếp nhận nghiêm túc, được phản hồi rõ ràng và được chuyển hóa thành quyết sách phối hợp có tính khả thi. Hiệp thương vì thế phải trở thành không gian dân chủ, nơi các tổ chức thành viên cùng bàn bạc, cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng thống nhất mục tiêu và cùng cam kết hành động. Càng trong bối cảnh thông tin đa chiều, lợi ích đa dạng, yêu cầu đồng thuận xã hội càng cao thì vai trò chủ trì của Mặt trận càng phải được thể hiện bằng năng lực điều hòa khác biệt, gắn kết các chủ thể, đưa những vấn đề còn phân tán về cùng một trọng tâm hành động.

Phương hướng thứ ba là bám sát yêu cầu đổi mới bộ máy và mô hình quản trị mới của hệ thống chính trị. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tổ chức lại bộ máy Mặt trận theo mô hình mới vừa tạo thời cơ, vừa đặt ra yêu cầu mới đối với công tác hiệp thương. Trong bối cảnh đầu mối tổ chức thay đổi, trách nhiệm của cấp tỉnh và cấp xã lớn hơn, phương hướng đặt ra là phải tái cấu trúc quy trình hiệp thương theo hướng gọn hơn, rõ hơn, nhanh hơn nhưng không giản đơn hóa dân chủ; ngược lại, phải bảo đảm mỗi nội dung hiệp thương đều đi đến thống nhất thực chất, tránh hội họp nhiều nhưng phân công không rõ, phối hợp không chặt, hiệu quả không cao. Ở đây, cấp xã cần được nhìn nhận là địa bàn thể hiện tập trung nhất năng lực chủ trì hiệp thương của Mặt trận.

Phương hướng thứ tư là đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hiệp thương theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, dựa trên dữ liệu và lấy kết quả làm thước đo. Một nền hiệp thương thực chất trong tình hình mới không thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào cách làm thủ công, tổng hợp cảm tính. Hiệp thương phải được chuẩn bị trên cơ sở khảo sát thực tiễn, nắm chắc tình hình Nhân dân, phân tích dữ liệu, dự báo xu hướng, nhận diện vấn đề nổi lên; đồng thời phải gắn với cơ chế theo dõi, kiểm tra và đánh giá kết quả sau hiệp thương. Nói cách khác, phương hướng lớn là chuyển từ hiệp thương nặng về quy trình sang hiệp thương gắn với quản trị mục tiêu, quản trị trách nhiệm và quản trị hiệu quả.

Phương hướng thứ năm là gắn chủ trì hiệp thương với nâng cao chất lượng chương trình hành động của Mặt trận trong toàn nhiệm kỳ và từng năm công tác. Chương trình hành động là hạt nhân của hiệp thương; nếu chương trình hành động chung chung, dàn trải, thiếu trọng tâm thì dù quy trình hiệp thương có đầy đủ đến đâu cũng khó tạo chuyển biến trong thực tiễn. Vì vậy, phát huy vai trò chủ trì hiệp thương phải đồng thời là quá trình nâng chất lượng xác định mục tiêu, chọn đúng nhiệm vụ trọng tâm, phân định rõ trách nhiệm chủ trì - phối hợp và xác lập cơ chế kiểm tra, sơ kết, tổng kết linh hoạt trong quá trình thực hiện.

II. Các giải pháp phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động trong tình hình mới

1. Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, quy chế và quy trình hiệp thương là giải pháp nền tảng. Trong thực tế, một trong những nguyên nhân khiến vai trò chủ trì hiệp thương của Mặt trận ở một số nơi chưa phát huy đầy đủ là do các quy định liên quan còn phân tán, một số nội dung chưa được cụ thể hóa thành quy chế phối hợp chặt chẽ, dẫn tới khi tổ chức thực hiện dễ lúng túng, trách nhiệm dễ chồng lấn hoặc bị đẩy sang cho Mặt trận tự xoay xở. Vì vậy, cần rà soát toàn diện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, quy chế và hướng dẫn của Mặt trận liên quan đến hiệp thương trong xây dựng và thực hiện chương trình hành động để bổ sung, sửa đổi theo hướng đồng bộ, dễ áp dụng, dễ kiểm tra. Trên cơ sở đó, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp cần chủ động tham mưu ban hành hoặc hoàn thiện quy chế hiệp thương phù hợp với mô hình tổ chức mới, trong đó làm rõ phạm vi hiệp thương, thẩm quyền chủ trì, trách nhiệm tham gia của tổ chức thành viên, cơ chế tiếp thu ý kiến khác nhau, nguyên tắc kết luận và cơ chế giám sát việc thực hiện kết luận hiệp thương. Cùng với đó, cần chuẩn hóa quy trình hiệp thương theo từng cấp. Đối với cấp Trung ương, quy trình phải bảo đảm tính định hướng lớn, liên thông với chương trình phối hợp của các tổ chức thành viên ở phạm vi toàn quốc. Đối với cấp tỉnh, quy trình cần nhấn mạnh tính điều phối liên ngành, liên lĩnh vực, phù hợp đặc điểm địa bàn. Đối với cấp xã, quy trình phải ngắn gọn, rõ việc, dễ vận hành, bảo đảm gần dân, sát dân, nắm việc nhanh và phản hồi nhanh.

2. Thứ hai, nâng cao chất lượng xây dựng chương trình hành động phải được coi là nội dung trung tâm của đổi mới hiệp thương. Bản chất của chủ trì hiệp thương trong thực hiện chương trình hành động là làm cho các chủ trương lớn được cụ thể hóa thành mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và cơ chế phối hợp cụ thể. Nếu chương trình hành động chỉ dừng ở những khẩu hiệu đúng nhưng chung, những mục tiêu rộng nhưng khó lượng hóa, những nhiệm vụ nhiều nhưng không rõ trọng tâm, thì hiệp thương dễ trở thành hình thức. Do đó, mỗi chương trình hành động cần được xây dựng trên cơ sở bám sát nghị quyết của Đảng, phương hướng của Đại hội MTTQ các cấp, yêu cầu thực tiễn của từng địa bàn và tâm tư, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp Nhân dân. Trong quá trình chuẩn bị nội dung hiệp thương, Mặt trận cần chủ động khảo sát, tổng hợp vấn đề nổi lên ở cơ sở, phân nhóm lĩnh vực ưu tiên, xác định rõ nội dung nào là nhiệm vụ thường xuyên, nội dung nào là nhiệm vụ đột phá, nội dung nào cần cơ chế phối hợp liên ngành. Đặc biệt, đối với từng nội dung được hiệp thương thống nhất, cần xác lập rõ sản phẩm đầu ra, thời hạn hoàn thành, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, tiêu chí đánh giá và chế độ báo cáo.

3. Thứ ba, đổi mới phương thức tổ chức hiệp thương theo hướng thực chất, dân chủ, đa chiều và có chiều sâu là giải pháp đột phá. Trong điều kiện hiện nay, hiệp thương không thể chỉ dừng ở mô hình hội nghị truyền thống, nơi tài liệu được gửi trước, ý kiến phát biểu còn khuôn mẫu, kết luận chủ yếu tổng hợp theo hướng đồng thuận chung. Muốn hiệp thương có chất lượng, Mặt trận phải đổi mới từ khâu chuẩn bị đến khâu điều hành và khâu kết thúc hội nghị. Trước hiệp thương, cần đẩy mạnh tham vấn nhiều vòng, nhiều kênh; lấy ý kiến bằng văn bản, tọa đàm chuyên đề, hội nghị nhỏ theo nhóm đối tượng, tham vấn chuyên gia, lấy ý kiến trên môi trường số đối với những vấn đề cần mở rộng phạm vi tiếp cận. Trong hiệp thương, người chủ trì phải thật sự đóng vai trò điều phối trung tâm, khuyến khích phản biện, gợi mở những điểm còn khác nhau, không né tránh vấn đề khó, đồng thời phải giữ được định hướng chính trị và mục tiêu thống nhất hành động. Sau hiệp thương, kết luận phải ngắn gọn nhưng cụ thể, nêu rõ việc nào thống nhất ngay, việc nào cần tiếp tục hoàn thiện, việc nào giao cơ quan thường trực hoặc tổ chức thành viên nghiên cứu, tham mưu tiếp. Một nền hiệp thương thực chất phải là nền hiệp thương mà sau mỗi cuộc họp, trách nhiệm được làm rõ hơn, hành động được thúc đẩy mạnh hơn.

4. Thứ tư, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức thành viên sau hiệp thương là điều kiện trực tiếp để biến thống nhất trên giấy thành phối hợp trong thực tiễn. Ở không ít nơi, hạn chế không nằm ở khâu tổ chức hiệp thương mà nằm ở giai đoạn sau hiệp thương: nội dung đã thống nhất nhưng không ai đeo bám; trách nhiệm phối hợp chưa cụ thể; chế độ báo cáo chưa rõ; khi kết quả thấp thì khó xác định trách nhiệm. Bởi vậy, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp cần thiết lập cơ chế phân công sau hiệp thương theo nguyên tắc một việc phải có đầu mối chịu trách nhiệm chính, có đơn vị phối hợp cụ thể, có mốc thời gian rõ ràng, có cơ chế kiểm tra định kỳ và có chế tài nhắc việc phù hợp. Mỗi tổ chức thành viên khi tham gia hiệp thương cần không chỉ phát biểu ý kiến, mà còn phải cam kết phần việc mình đảm nhận; nội dung cam kết phải được thể hiện trong thông báo kết luận hoặc phụ lục phân công nhiệm vụ để thuận lợi cho theo dõi. Cần đổi mới chế độ giao ban giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên theo hướng ngắn gọn, đúng trọng tâm, đánh giá trên việc và trên kết quả; giảm báo cáo dàn trải, tăng đối chiếu trách nhiệm thực hiện các nội dung đã thống nhất. Đồng thời, nên gắn kết quả tham gia và thực hiện sau hiệp thương với bình xét thi đua, khen thưởng hằng năm.

5. Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hiệp thương, tổng hợp ý kiến và theo dõi thực hiện là yêu cầu không thể chậm hơn nữa. Chuyển đổi số phải được nhìn nhận là một phương thức để nâng cao chất lượng chủ trì hiệp thương chứ không chỉ là đưa thêm công cụ công nghệ vào quy trình cũ. Trước hết, cần xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ công tác nắm tình hình Nhân dân, tổng hợp ý kiến của tổ chức thành viên, cập nhật tiến độ thực hiện chương trình hành động, lưu trữ kết luận hiệp thương và kết quả kiểm tra, giám sát. Tiếp đó, cần triển khai mô hình hội nghị hiệp thương kết hợp trực tiếp với trực tuyến phù hợp từng cấp, từng nội dung; phát huy phòng họp không giấy tờ, hồ sơ điện tử, bảng phân công công việc số, chữ ký số và các nền tảng theo dõi tiến độ. Ở cấp xã, tùy điều kiện có thể áp dụng các hình thức tương tác số đơn giản nhưng hiệu quả như nhóm điều phối công việc, biểu mẫu tổng hợp kiến nghị, sổ theo dõi số hóa các nội dung phối hợp. Chuyển đổi số cũng cần gắn với mở rộng kênh tiếp nhận ý kiến Nhân dân, nhất là trên những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh, dân chủ ở cơ sở, giám sát cộng đồng. Tuy nhiên, đẩy mạnh tương tác số phải đi đôi với xác thực thông tin, bảo đảm an toàn dữ liệu, tăng cường năng lực sàng lọc, phản bác thông tin xấu độc.

6. Thứ sáu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hiệp thương là giải pháp rất quan trọng để khắc phục bệnh hình thức. Trong nhiều trường hợp, hiệp thương vẫn được đánh giá chủ yếu qua việc có tổ chức hội nghị, có ban hành kết luận, có báo cáo tổng kết; trong khi những yếu tố cốt lõi như mức độ dân chủ, chất lượng phối hợp, hiệu quả thực hiện chương trình hành động, tác động đến đồng thuận xã hội lại chưa được đo lường một cách bài bản. Vì vậy, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả hiệp thương theo hướng thống nhất về nguyên tắc, linh hoạt trong áp dụng. Bộ tiêu chí ấy nên bao gồm bốn nhóm: đầu vào, quá trình, đầu ra và tác động. Khi có bộ tiêu chí, Mặt trận các cấp sẽ có cơ sở để so sánh, nhận diện khâu yếu, phát hiện mô hình tốt và điều chỉnh cách làm. Quan trọng hơn, bộ tiêu chí sẽ giúp hiệp thương chuyển từ “đã làm” sang “làm có hiệu quả”.

7. Thứ bảy, tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết là giải pháp bảo đảm hệ thống giải pháp được vận hành liên tục và bền vững. Công tác hiệp thương chỉ thật sự mạnh khi có một vòng khép kín từ chuẩn bị - tổ chức - phân công - kiểm tra - rút kinh nghiệm - điều chỉnh. Vì vậy, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp cần đưa việc kiểm tra thực hiện kết luận hiệp thương thành nội dung công tác thường xuyên, không đợi đến cuối năm mới tổng hợp. Cần định kỳ hằng quý hoặc theo chuyên đề để rà soát tiến độ những nội dung trọng tâm; nơi nào phối hợp tốt phải kịp thời biểu dương, nhân rộng; nơi nào chậm, hình thức, né trách nhiệm thì phải nhắc nhở, chấn chỉnh. Sơ kết và tổng kết không nên chỉ dừng ở việc cộng dồn con số mà phải đi vào phân tích vì sao có nơi hiệp thương hiệu quả, vì sao có nơi chưa hiệu quả, mô hình nào đáng nhân rộng, điểm nghẽn nào cần tháo gỡ ở tầm cơ chế.

8. Thứ tám, chú trọng giải pháp theo từng cấp Mặt trận để bảo đảm đồng bộ nhưng không đồng loạt. Ở cấp Trung ương, trọng tâm là hoàn thiện định hướng chiến lược, ban hành quy chế mẫu, bộ tiêu chí chung, nền tảng dữ liệu và các hướng dẫn thống nhất để toàn hệ thống có căn cứ triển khai. Ở cấp tỉnh, trọng tâm là cụ thể hóa thành quy chế phối hợp liên ngành, liên tổ chức thành viên, gắn hiệp thương với những vấn đề lớn của địa phương và tăng năng lực điều phối trên địa bàn rộng. Ở cấp xã, trọng tâm là năng lực vận hành thực chất, gần dân, sát dân, xử lý được việc cụ thể, nắm chắc tình hình nhân dân, phát hiện sớm vấn đề từ cơ sở và chuyển hóa thành nội dung phối hợp hành động giữa Mặt trận với các đoàn thể, các tổ chức thành viên và chính quyền cùng cấp. Đặc biệt, trong điều kiện chính quyền địa phương hai cấp, vai trò của cấp xã sẽ càng trực tiếp hơn, nên cần ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng hiệp thương, kỹ năng điều hành, kỹ năng tổng hợp ý kiến, kỹ năng sử dụng công cụ số, kỹ năng dân vận và đối thoại cho đội ngũ cán bộ Mặt trận ở cơ sở.

9. Thứ chín, chú trọng giải pháp theo từng khâu của quy trình hiệp thương để tạo ra chuỗi vận hành mạch lạc. Trước hiệp thương, khâu quyết định là chuẩn bị nội dung: phải khảo sát kỹ, nắm đúng vấn đề, có dự thảo rõ, có tài liệu đủ, có tham vấn trước với chủ thể liên quan. Trong hiệp thương, khâu quyết định là điều hành: người chủ trì phải biết gợi mở, biết dung hòa khác biệt, biết giữ trọng tâm và biết kết luận đúng lúc. Sau hiệp thương, khâu quyết định là tổ chức thực hiện: phải ban hành thông báo kết luận sớm, phân công rõ, theo dõi đều, kiểm tra sát và báo cáo gọn, thực chất. Nhiều nơi hiệp thương chưa hiệu quả không phải vì chủ trương sai, mà vì đứt gãy ở một trong ba khâu này.

10. Thứ mười, củng cố năng lực chủ trì của cơ quan thường trực và đội ngũ cán bộ Mặt trận là giải pháp có tính quyết định. Cán bộ Mặt trận trong tình hình mới không chỉ cần tâm huyết, trách nhiệm mà còn phải có tư duy tổ chức, kỹ năng điều phối, năng lực phân tích, khả năng tổng hợp chính sách, kỹ năng đối thoại, kỹ năng sử dụng dữ liệu và khả năng thích ứng với môi trường số. Vì vậy, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Mặt trận theo hướng thực hành, tình huống, bám vị trí việc làm và yêu cầu của mô hình tổ chức mới. Nội dung bồi dưỡng phải đi vào kỹ năng chủ trì hiệp thương, xây dựng chương trình hành động, điều hành hội nghị, xử lý khác biệt, giám sát việc thực hiện kết luận, ứng dụng công nghệ số và kỹ năng truyền thông xã hội. Đồng thời, cần quan tâm kiện toàn cơ quan tham mưu, giúp việc theo hướng tinh gọn nhưng đủ năng lực tổng hợp, điều phối và hỗ trợ ban thường trực thực hiện tốt vai trò chủ trì.

Mặt khác, khi triển khai đồng bộ các giải pháp trên, cần kiên quyết khắc phục khuynh hướng hành chính hóa trong hiệp thương. Hiệp thương không phải là hợp thức hóa một phương án đã định sẵn, càng không phải là thủ tục để hoàn thành hồ sơ công tác. Giá trị lớn nhất của hiệp thương nằm ở chỗ tạo ra sự thống nhất trên cơ sở thảo luận dân chủ, trên nền tảng thông tin đầy đủ và trách nhiệm rõ ràng. Vì vậy, nơi nào còn coi hiệp thương là việc riêng của Mặt trận, nơi đó rất khó tạo được sức mạnh phối hợp. Ngược lại, khi cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chính quyền phối hợp chặt chẽ, tổ chức thành viên tham gia bằng tinh thần đồng trách nhiệm, hiệp thương sẽ trở thành động lực thúc đẩy đổi mới phương thức hoạt động của cả hệ thống Mặt trận.

Kết luận

Trong tình hình mới, phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trong chủ trì hiệp thương thực hiện chương trình hành động không chỉ là yêu cầu nội tại của công tác Mặt trận, mà còn là đòi hỏi khách quan của tiến trình phát huy dân chủ, củng cố đồng thuận xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XIV của Đảng, nhiệm kỳ MTTQ Việt Nam 2026-2031, yêu cầu sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và quản trị hiện đại đã tạo ra bối cảnh mới, đồng thời đặt ra chuẩn mực mới đối với chất lượng hiệp thương của Mặt trận. Trong bối cảnh đó, nếu hiệp thương vẫn vận hành theo lối cũ, nặng hình thức, thiếu dữ liệu và thiếu ràng buộc trách nhiệm thì sẽ khó đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Bởi vậy, đổi mới hiệp thương phải được xác định là một hướng đột phá để nâng cao hiệu quả chương trình hành động của Mặt trận. Đổi mới ấy cần bắt đầu từ nhận thức đúng về vai trò chủ trì của Mặt trận, được bảo đảm bằng thể chế và quy trình rõ ràng, được thực hiện bằng phương thức tổ chức dân chủ, thực chất, hiện đại và được vận hành bởi đội ngũ cán bộ có năng lực, kỹ năng và tinh thần trách nhiệm cao. Khi hiệp thương được tổ chức tốt, chương trình hành động sẽ không còn là văn bản định hướng đơn thuần, mà trở thành cơ chế phối hợp gắn trách nhiệm với hành động và chuyển hóa đồng thuận thành kết quả cụ thể.

Phát huy vai trò chủ trì hiệp thương của Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp vì thế cũng chính là phát huy vai trò nòng cốt của Mặt trận trong xây dựng đồng thuận xã hội, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường giám sát và phản biện xã hội. Làm tốt nhiệm vụ đó, Mặt trận sẽ tiếp tục khẳng định vị thế chính trị của mình, đồng thời góp phần xây dựng nền quản trị hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân, vì dân trong giai đoạn phát triển mới./.

                        Ths. Phạm Hồng Thanh

                   Trưởng Phòng Tổng hợp-Thư ký

 Văn phòng Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Quốc hội (2015), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, số 75/2015/QH13.

3. Quốc hội (2025), Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

4. Văn phòng Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH ngày 21/7/2025, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

5. Văn phòng Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 89/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

6. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2025), Đề án tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 – 2031.

7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

8. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị Đại hội XI (Dự thảo 3, ngày 10/3/2026).

9. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.