Chính sách thí điểm phải “6 rõ”, bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả

(Mặt trận) - Thảo luận tại hội trường về dự thảo Nghị quyết phát triển văn hóa Việt Nam, nhiều đại biểu Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền như điều kiện tiên quyết để bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả của chính sách phát triển văn hóa.

Đại biểu Quốc hội đề xuất nâng lương cơ sở lên 2,65-2,7 triệu đồng

Kiến trúc là cơ sở cho lĩnh vực nghệ thuật khác thăng hoa, cần cơ chế đột phá phát triển

Phát huy vai trò của luật sư công trong giải quyết vấn đề pháp lý của khu vực nhà nước

Đoàn Chủ tịch điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh 

Sáng 22/4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội làm việc tại hội trường, thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam.

Gỡ điểm nghẽn thể chế để văn hóa thực sự “sống” trong đời sống

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh 

Thảo luận tại hội trường, các đại biểu Quốc hội đều nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, được thể hiện tại Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) ghi nhận, các quy định tại dự thảo Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm tương đối toàn diện đến hai trụ cột chính là “bảo tồn di sản” và “phát triển công nghiệp văn hóa”. Điều này vừa góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập, vừa xác định công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế tiềm năng cần được khuyến khích phát triển.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng 

Tuy nhiên, đại biểu cũng chỉ ra một thực tế: trong khi nhu cầu tiếp cận văn hóa ngày càng đa dạng, mang tính thị trường, thì công tác bảo tồn văn hóa ở nước ta chủ yếu vẫn theo hướng “bảo tồn tĩnh”, tập trung vào lưu giữ, phục dựng và bảo vệ nguyên trạng di sản. Theo đại biểu, cách tiếp cận này tuy giữ được bản sắc nhưng bộc lộ nhiều hạn chế: văn hóa bị tách khỏi đời sống đương đại, khó tiếp cận, đặc biệt với thế hệ trẻ; thiếu cơ chế chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế; và phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước, từ đó thiếu tính bền vững.

“Văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể trở thành chất liệu sáng tạo hấp dẫn trong thời đại số, vừa góp phần bảo tồn theo cách linh hoạt, vừa đem lại giá trị kinh tế. Nếu chỉ dừng lại ở bảo tồn, văn hóa sẽ mãi là di sản có giá trị nhưng không được khai thác. Văn hóa chỉ thực sự sống khi được đặt trong dòng chảy của thị trường và sáng tạo”, đại biểu nhấn mạnh.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành phiên họp. Ảnh: Quang Khánh 

Từ thực tế này, đại biểu đề nghị chính sách chuyển đổi số quy định tại Điều 10 cần được xác định là trụ cột trung tâm. Theo đó, cần đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng nền tảng số quốc gia để phân phối nội dung văn hóa, hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ số và bảo vệ bản quyền trên môi trường số.

Đại biểu cũng đề nghị các chính sách ưu đãi về tài chính và thuế (Điều 4) cần mạnh mẽ hơn. Bên cạnh thuế suất ưu đãi, cần áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức cạnh tranh hơn, miễn giảm dài hạn cho các ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm và cho phép khấu trừ cao hơn đối với chi phí sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh, game và âm nhạc số. “Đây là công cụ đã được kiểm chứng, nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng hiệu quả để thu hút đầu tư vào lĩnh vực này”, đại biểu khẳng định.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến và các đại biểu tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh 

Để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, ĐBQH Dương Mạc Kiên (Cao Bằng) đề nghị nghiên cứu, rà soát, bổ sung một điều quy định về nguyên tắc phát triển văn hóa. Trong đó, nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn đi trước khai thác đối với di sản; xác định cộng đồng là chủ thể; bảo đảm phát triển bao trùm, ưu tiên vùng khó khăn; đồng thời, công nghiệp văn hóa phải gắn với bản sắc và chủ quyền.

Theo đại biểu, cần bổ sung bộ chỉ tiêu giám sát, giao Chính phủ xây dựng chỉ số quốc gia về văn hóa bám theo logic đo lường đang được UNESCO khuyến nghị. Đồng thời, bổ sung cơ chế chia sẻ lợi ích cho cộng đồng trong các dự án khai thác di sản, du lịch văn hóa và sản phẩm văn hóa, với nguyên tắc tái đầu tư cho cộng đồng giữ gìn di sản.

 ĐBQH Trần Thị Vân (Bắc Ninh) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

Đại biểu cũng đề xuất bổ sung cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho nghệ nhân, người truyền dạy, người nắm giữ tri thức dân gian; không chỉ giao cho địa phương bố trí ngân sách mà cần có khung tối thiểu áp dụng trên toàn quốc.

Bên cạnh đó, cần xây dựng tầng chính sách riêng cho văn hóa dân tộc thiểu số, từ hỗ trợ ngôn ngữ, chữ viết, nghi lễ, dân ca, nghề thủ công đến số hóa khẩn cấp và phương thức truyền dạy trong cộng đồng.

 Các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng

Để bảo đảm tính linh hoạt trong thực thi, đại biểu đề nghị bổ sung “van an toàn” cho các cơ chế thí điểm; đồng thời bổ sung định hướng triển khai sau khi Nghị quyết được ban hành vào nội dung thực hiện, bao gồm: chương trình hành động 5 năm; đề án công nghiệp văn hóa; đề án số hóa văn hóa; và đề án bảo tồn văn hóa cộng đồng dân tộc thiểu số.

Xác định rõ phạm vi áp dụng chính sách thí điểm

 ĐBQH Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

ĐBQH Nguyễn Phương Thủy (Hà Nội) nhận thấy, dự thảo Nghị quyết đã thiết kế một loạt chính sách theo hướng thí điểm ở nhiều điều khoản khác nhau. Đây là cách tiếp cận phù hợp với tính chất của lĩnh vực văn hóa, khi nhiều nội dung còn mới cần được thử nghiệm trước khi luật hóa. Điểm tích cực là dự thảo đã bước đầu làm rõ thời gian thí điểm, phổ biến từ 5 đến 10 năm tùy từng chính sách.

Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh, phần quan trọng hơn của cơ chế thí điểm không phải là thời gian mà là cách thiết kế nội dung và cơ chế thực hiện, hiện vẫn còn nhiều điểm chưa rõ, thậm chí chưa thống nhất. Có nội dung giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện; có nội dung giao chính quyền địa phương chủ động triển khai; trong khi một số nội dung lại sử dụng khái niệm chung chung là “Nhà nước thực hiện thí điểm” mà không xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm. Theo đại biểu, cách quy định này gây khó khăn trong xác định thẩm quyền, đặc biệt khi phát sinh vấn đề cần xử lý hoặc trách nhiệm giải trình.

Về phạm vi và nội dung thí điểm, nhiều quy định mới dừng ở mức cho phép thực hiện mà chưa xác định rõ nội dung nào được phép khác với luật hiện hành, khác ở mức độ nào và trong giới hạn nào. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật, khi Quốc hội cho phép thí điểm, đặc biệt với các chính sách có thể khác luật, thì chính nghị quyết phải xác định rõ các nội dung cốt lõi này. Nếu không, sẽ dẫn đến tình trạng không triển khai được do thiếu căn cứ cụ thể, giao quá rộng cho cơ quan thực thi.

Các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng 

Theo đại biểu, dự thảo Nghị quyết hiện cũng chưa làm rõ mục tiêu đầu ra cần đạt được sau thời gian thí điểm, gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả và quyết định có nên tiếp tục hay mở rộng phạm vi thí điểm.

"Khi dự thảo Nghị quyết lựa chọn cách tiếp cận giao quyền tương đối rộng cho Chính phủ và các cơ quan thực thi trong việc tổ chức thí điểm, thì cần thiết kế tương xứng các cơ chế kiểm soát quyền lực, giám sát và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, nội dung này hiện còn mờ nhạt trong dự thảo Nghị quyết, chưa có quy định rõ về chế độ báo cáo định kỳ, chưa xác định yêu cầu giải trình khi không đạt mục tiêu hoặc phát sinh rủi ro, cũng như chưa thiết lập cơ chế để Quốc hội hoặc các cơ quan của Quốc hội theo dõi, đánh giá việc thực hiện. Nếu thiếu các điểm tựa này, việc giao quyền rộng sẽ tiềm ẩn rủi ro trong kiểm soát và khó bảo đảm tính minh bạch", đại biểu Nguyễn Phương Thủy nhấn mạnh.

Từ các phân tích trên, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về thí điểm theo hướng quy định rõ ngay trong Nghị quyết. Cụ thể, với từng chính sách thí điểm cần xác định rõ phạm vi áp dụng, nội dung được phép khác với luật hiện hành, chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện và nguyên tắc triển khai theo yêu cầu “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền. Trường hợp chưa đủ cơ sở để quy định ngay, cần tiếp tục chuẩn bị và trình Quốc hội ban hành nghị quyết thí điểm riêng.

 ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội) phát biểu. Ảnh: Quang Khánh

Về quy định Quỹ đầu tư mạo hiểm (Điều 11), ĐBQH Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội) cho rằng, để chính sách này khả thi và chặt chẽ cần thiết kế các tiêu chí đánh giá rủi ro để bảo vệ các hội đồng thẩm định quỹ khỏi những rào cản hành chính về bảo toàn nguồn vốn. Bởi lẽ, nghệ thuật có đặc thù riêng, không phải dự án nào cũng thành công ngay về mặt thương mại, nên cần có một hành lang pháp lý thật an toàn cho những rủi ro đã được dự báo trước.

Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cơ bản thống nhất với các cơ chế chính sách trong dự thảo Nghị quyết, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu thiết kế chính sách đủ mạnh, có tính đột phá, đặc thù, khả thi, khơi thông và huy động được hiệu quả nguồn lực xã hội và phát triển văn hóa.

 Các đại biểu dự phiên họp. Ảnh: Phạm Thắng

Về cơ chế thu hút đầu tư và ưu đãi đầu tư, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm tính cạnh tranh, đủ hấp dẫn, tăng cường thu hút khu vực tư nhân, đồng thời nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế theo hướng ưu đãi phù hợp, quy định rõ phạm vi áp dụng, bảo đảm minh bạch, tránh bị lợi dụng. “Ưu đãi phải gắn liền với sản phẩm cụ thể, gắn với kinh tế sáng tạo với thị hiếu thụ hưởng với thực hiện mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia và làm rõ hơn nội dung phạm vi của các mô hình thí điểm”, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.