(Mặt trận) - Bảo vệ bí mật nhà nước là yêu cầu quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm hiệu quả đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh chuyển đổi số và các phương tiện truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ, công tác bảo vệ bí mật nhà nước đang đối mặt với nhiều yêu cầu, thách thức mới, đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ bí mật nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
 |
| Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương __Ảnh: TTXVN |
Những vấn đề đặt ra trong bảo vệ bí mật nhà nước gắn với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Bảo vệ bí mật nhà nước là yếu tố nền tảng bảo đảm tính chủ động, chính xác và hiệu quả của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, thông tin lan truyền nhanh và đa chiều, việc giữ vững bí mật về chủ trương, kế hoạch, phương án đấu tranh, định hướng tuyên truyền giúp các cơ quan chức năng chủ động kiểm soát thông tin, định hướng dư luận đúng đắn. Bảo vệ bí mật nhà nước còn giữ vai trò then chốt trong việc chủ động ngăn chặn sự can thiệp, xuyên tạc của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối và phần tử xấu. Như vậy, trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ bí mật nhà nước không chỉ là yêu cầu pháp lý, mà còn là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc triển khai hiệu quả, an toàn và bền vững công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới. Trong đó, các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực tư tưởng. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị giữ vai trò then chốt và chịu trách nhiệm cao nhất về bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi được phân công phụ trách. Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng, đặc biệt là các cơ quan trực tiếp tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn bộ quá trình tham mưu, đề xuất, xây dựng và triển khai nhiệm vụ. Các lực lượng chuyên trách làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước, nhất là lực lượng Công an nhân dân Việt Nam có trách nhiệm nòng cốt trong quản lý nhà nước, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát và phối hợp xử lý các vấn đề liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cán bộ, đảng viên, những người trực tiếp tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong thực hiện trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước.
Bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm chung, được phân định rõ ràng theo chức năng, nhiệm vụ và vị trí của từng chủ thể. Việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc không chỉ góp phần bảo đảm an toàn thông tin, mà còn trực tiếp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới.
Thực tiễn giai đoạn 2020 - 2026 cho thấy, nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước xuất phát từ ba nhóm chính: Nội bộ, không gian mạng - công nghệ số và hoạt động phối hợp, trao đổi thông tin.
Thứ nhất, nguy cơ từ nội bộ xuất phát từ chính đội ngũ cán bộ, đảng viên, những người trực tiếp tiếp cận, quản lý bí mật nhà nước. Dưới góc độ an ninh nội bộ, đây là nguy cơ thường trực, khó kiểm soát nhất vì xuất phát từ chính những người trong hệ thống. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của bí mật nhà nước trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chưa thấm nhuần quan điểm bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm chính trị, pháp lý của mọi cá nhân, “nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại rất nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia, dân tộc”(1). Biểu hiện là coi nhẹ quy định, thiếu cảnh giác khi chia sẻ thông tin nội bộ trong quá trình giao tiếp hằng ngày, trên các phương tiện truyền thông xã hội, sử dụng thiết bị cá nhân để xử lý tài liệu mật hoặc không áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết.
Thứ hai, nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước xuất phát từ không gian mạng và công nghệ số. Không gian mạng là kênh chính mà các thế lực thù địch sử dụng để tấn công, thu thập thông tin. Các thế lực và các tổ chức tình báo nước ngoài sử dụng các chiến dịch tấn công có chủ đích, nằm vùng lâu dài trong hệ thống mạng của các cơ quan Đảng, Nhà nước. Việc sử dụng các ứng dụng như Facebook, Zalo, Telegram... để trao đổi thông tin công việc là con đường ngắn nhất dẫn đến lộ thông tin mật. Ngay cả khi tin nhắn được thu hồi, dữ liệu vẫn có thể lưu trữ trên máy chủ đặt tại nước ngoài.
Thứ ba, nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước đến từ hoạt động phối hợp, trao đổi thông tin. Trên thực tế, vẫn còn tình trạng phổ biến thông tin mật cho các cá nhân, tổ chức không có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp, vi phạm nguyên tắc phân quyền tiếp cận. Hệ quả là nguy cơ lộ, lọt thông tin qua các khâu trung gian gia tăng, tạo điều kiện để các thế lực thù địch khai thác, xuyên tạc và kích động chia rẽ nội bộ. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát sau quá trình trao đổi, cung cấp thông tin ở một số trường hợp chưa được thực hiện thường xuyên; quy trình hậu kiểm còn thiếu hoặc chưa chặt chẽ.
Trên cơ sở đánh giá quá trình triển khai Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Bộ Chính trị, về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” gắn với việc thực thi Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018, có thể nhận thấy, công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, đồng thời vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục.
Những kết quả nổi bật của công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất,sự chuyển biến sâu sắc về tư duy và nhận thức chính trị. Nhận thức về công tác bảo vệ bí mật nhà nước đã có sự chuyển biến rõ rệt, từ việc xem đây chủ yếu là nhiệm vụ hành chính, nghiệp vụ của lực lượng công an, văn thư và cơ yếu, đến việc xác định đây là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gắn trực tiếp với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Thứ hai, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế phối hợp trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Sự ra đời của các danh mục bí mật nhà nước chuyên ngành trên lĩnh vực tuyên giáo, xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát… đã cung cấp công cụ “đo lường” chuẩn xác cho lực lượng tác chiến. Các quy chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị từng bước được chuẩn hóa, đồng bộ, góp phần bảo đảm an toàn đối với thông tin, tài liệu liên quan đến các chủ trương, chiến lược trọng yếu, đồng thời phục vụ hiệu quả việc xây dựng và triển khai các phương án đấu tranh, phòng, chống hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trước các sự kiện chính trị quan trọng.
Thứ ba, hiệu quả thực chiến ngày càng được nâng cao. Công tác bảo vệ bí mật nhà nước đã góp phần chủ động phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu tấn công mạng nhằm đánh cắp dữ liệu của các cơ quan Đảng, Nhà nước; đồng thời phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, đảng viên làm lộ, mất bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước trên mặt trận tư tưởng vẫn tồn tại một số hạn chế cần thẳng thắn nhận diện và khắc phục:
Một là, việc cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước và hoạt động tuyên truyền thông tin còn gặp nhiều khó khăn.
Hai là, tình trạng lộ, mất bí mật trên không gian mạng diễn biến phức tạp, khi một số cán bộ sử dụng thiết bị cá nhân kết nối internet để soạn thảo, truyền tải thông tin.
Ba là, công tác phối hợp, trao đổi và chia sẻ thông tin giữa một số cơ quan, đơn vị chưa chặt chẽ, tiềm ẩn nguy cơ lộ, lọt bí mật nhà nước.
 |
| Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phối hợp với Hiệp hội An ninh mạng quốc gia tổ chức Chương trình diễn tập an ninh mạng quốc gia năm 2025 _Ảnh: baochinhphu.vn |
Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình mới
Để tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, quy định về bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn hệ thống chính trị; đổi mới tư duy và trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên.
Nội dung tuyên truyền cần tập trung làm rõ hậu quả chính trị, xã hội và pháp lý của việc để lộ, mất bí mật nhà nước, trong đó có các thông tin liên quan đến công tác tư tưởng, lý luận, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Việc tuyên truyền không chỉ dừng ở phổ biến quy định, mà phải gắn với các tình huống thực tiễn, bài học kinh nghiệm cụ thể, giúp chủ thể nhận diện rõ nguy cơ trong sử dụngcác phương tiện truyền thông xã hội, chia sẻ thông tin và phát ngôn trên không gian mạng... Thông qua đó, từng bước hình thành và củng cố “văn hóa bảo mật” trong toàn hệ thống chính trị, coi việc giữ gìn bí mật nhà nước là trách nhiệm chính trị, đạo đức và pháp lý của mỗi cán bộ, đảng viên.
Việc bảo vệ bí mật nhà nước cần chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa chiến lược, chủ động kiểm soát rủi ro ngay từ khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng và triển khai nhiệm vụ. Đồng thời, cần đặt công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong tổng thể nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị nội bộ và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hai là, hoàn thiện thể chế về bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Nghị định số 26/2020/NĐ-CP, ngày 28-2-2020, của Chính phủ, “Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước”; Quyết định số 1722/QĐ-TTg, ngày 3-11-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc ban hành danh mục bí mật nhà nước của Đảng” và Thông tư số 24/2020/TT-BCA, ngày 10-3-2020, của Bộ Công an, “Ban hành biểu mẫu sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước” đã quy định cơ bản về danh mục, nguyên tắc, trình tự, thủ tục xác định độ mật, quản lý, sao chụp, giao nhận, tổ chức hội nghị có nội dung mật...
Tuy nhiên, đặc thù của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đặt ra yêu cầu phải xác định đúng vai trò, cụ thể hóa các quy định chung đó thành quy chế nội bộ phù hợp với hoạt động ban chỉ đạo bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch (ban chỉ đạo 35) các cấp có tính linh hoạt cao, phản ứng nhanh, phạm vi tác động rộng, thường xuyên tiếp xúc với truyền thông và không gian mạng. Vì vậy, cần xác định phạm vi bí mật nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; rà soát, hoàn thiện quy chế nội bộ về bảo vệ bí mật nhà nước trong hệ thống ban chỉ đạo 35, bảo đảm rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ thẩm quyền; xây dựng văn hóa bảo mật trong các cơ quan, đơn vị và cho mỗi cán bộ, đảng viên.
Đồng thời phải cụ thể hóa danh mục tài liệu mật, mức độ mật... trong hệ thống đa dạng các tài liệu phát sinh thường xuyên, tần suất lớn trong quá trình hằng ngày, hằng giờ triển khai các nhiệm vụ, giải pháp của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của toàn hệ thống ban chỉ đạo 35 các cấp. Khắc phục tình trạng lạm dụng đóng dấu mật tràn lan hoặc ngược lại, cũng như tình trạng xác định độ mật không đúng thẩm quyền, không đúng danh mục.
Ba là, xây dựng lực lượng tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng tinh gọn nhưng đáp ứng được yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước trong bối cảnh tình hình mới.
Nâng cao trình độ, kiến thức và kỹ năng bảo vệ bí mật nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đặc biệt trong môi trường số và không gian mạng. Đồng thời, hoàn thiện chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất đặc thù, áp lực cao và trách nhiệm bảo mật nghiêm ngặt của nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước. Nghiên cứu, bổ sung cơ chế khen thưởng kịp thời, chế độ phụ cấp trách nhiệm tương xứng đối với cán bộ, đảng viên trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bí mật nhà nước, qua đó tạo động lực, củng cố ý thức trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Bốn là, triển khai đồng bộ, có trọng tâm các giải pháp kỹ thuật – công nghệ, phù hợp với mô hình tổ chức, phương thức hoạt động và yêu cầu bảo mật đặc thù của ban chỉ đạo 35 các cấp.
Cần xây dựng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật số phục vụ riêng cho hoạt động của ban chỉ đạo 35 các cấp; ưu tiên đầu tư, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin chuyên biệt phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, trao đổi nghiệp vụ và phối hợp của ban chỉ đạo 35 các cấp.
Bên cạnh đó, phát triển các nền tảng số dùng chung phục vụ chỉ đạo, điều phối và trao đổi nghiệp vụ của ban chỉ đạo 35 các cấp. Các nền tảng này phải được thiết kế theo nguyên tắc phân quyền chặt chẽ, kiểm soát truy cập theo vai trò, chức năng và nhiệm vụ của từng đối tượng; bảo đảm mọi hoạt động truy cập, sử dụng đều được ghi nhận, giám sát, hạn chế tối đa nguy cơ lộ, lọt bí mật nhà nước do sử dụng các công cụ trao đổi thông tin phổ biến nhưng không an toàn. Đồng thời, xây dựng cơ chế tích hợp giữa giải pháp kỹ thuật - công nghệ với quy trình nghiệp vụ và công tác tổ chức của ban chỉ đạo 35 các cấp. Việc tích hợp này phải bảo đảm nguyên tắc công nghệ phục vụ con người và nhiệm vụ chính trị; hỗ trợ nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành và đấu tranh tư tưởng, đồng thời không làm phát sinh nguy cơ mới về lộ, lọt bí mật nhà nước.
Tăng cường các giải pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin trong hoạt động đấu tranh trên không gian mạng. Các giải pháp này bao gồm bảo mật thiết bị đầu cuối, bảo vệ tài khoản số, kiểm soát truy cập, phòng ngừa tấn công mạng, ngăn chặn việc thu thập trái phép dữ liệu cá nhân và thông tin nghiệp vụ. Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ tự động hóa nội dung. Việc ứng dụng AI trong hoạt động của ban chỉ đạo 35 các cấp cần được kiểm soát nghiêm ngặt về dữ liệu đầu vào, phạm vi sử dụng và mục đích khai thác.
Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ “Make in Vietnam” trong bảo vệ bí mật nhà nước. Việc làm chủ công nghệ cốt lõi giúp giảm thiểu nguy cơ can thiệp hoặc thu thập dữ liệu từ bên ngoài, đồng thời tạo điều kiện chủ động trong điều chỉnh, nâng cấp, hoàn thiện các giải pháp bảo mật theo yêu cầu thực tiễn. Trong điều kiện nguồn lực hiện nay, cần xác định lộ trình phù hợp, ưu tiên phát triển các công nghệ lõi phục vụ trực tiếp cho bảo vệ bí mật nhà nước và công tác tư tưởng, tránh dàn trải, hình thức./.
TS LÊ ĐỨC CẢNH - TRẦN ĐOÀN HƯNG
Ban Tuyên giáo Trung ương - Học viện Chính trị Công an nhân dân
---------------------
(1) Luật số: 29/2018/QH14, ngày 15-11- 2018, của Quốc hội, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước
Theo Tạp chí cộng sản