(Mặt trận) - Trong bối cảnh ESG ngày càng trở thành chuẩn mực toàn cầu và “luật chơi mới” của thương mại quốc tế, việc triển khai ESG tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về nội địa hóa để phù hợp với điều kiện phát triển và năng lực của doanh nghiệp trong nước. Nếu không được tiếp cận một cách thực chất và có lộ trình phù hợp, ESG không chỉ khó phát huy vai trò thúc đẩy phát triển bền vững, mà còn tiềm ẩn nguy cơ hình thức hóa, “tô xanh”, làm gia tăng gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.
 |
| Các nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp tham gia hội thảo |
Đó là ý kiến của nhiều đại biểu tại Hội thảo khoa học “ESG và các vấn đề về phát triển bền vững tại Việt Nam”, ngày 30/01/2026 tại Hà Nội, do Viện Quản trị Kinh doanh – Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội phối hợp với Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam tổ chức.
Hội thảo quy tụ các chuyên gia, giảng viên, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp trong các lĩnh vực môi trường, quản trị và phát triển bền vững, nhằm trao đổi về xu hướng ESG, thực trạng triển khai và khung chính sách liên quan tại Việt Nam.
“Luật chơi mới” của thương mại quốc tế
ESG (Environmental – Social – Governance / Môi trường – Xã hội – Quản trị) phát triển mạnh mẽ từ đầu những năm 2000 cùng với xu hướng thúc đẩy phát triển bền vững toàn cầu. Hiện nay, ESG đang dần trở thành “luật chơi mới” của thương mại quốc tế và được sử dụng rộng rãi để đánh giá rủi ro dài hạn cũng như chất lượng quản trị của doanh nghiệp, từ phát thải carbon, lao động đến minh bạch và trách nhiệm giải trình.
“Luật chơi mới” này mở ra cơ hội cho Việt Nam kết nối sâu hơn với xu hướng phát triển bền vững toàn cầu, đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị và khả năng tiếp cận vốn xanh.
 |
| TS. Vũ Văn Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng Ban Tuyên giáo, Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phát biểu |
Phát biểu khai mạc tại hội thảo, TS. Vũ Văn Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng Ban Tuyên giáo – UBTW MTTQ Việt Nam cho biết, Đại hội XIV của Đảng đã tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; coi đây là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Quan điểm này phản ánh nhận thức chiến lược, toàn diện của Đảng về mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội, cùng với bảo vệ môi trường.
Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, trong bối cảnh quốc tế đang gia tăng các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Ông Tiến cho rằng, ESG không chỉ là một khái niệm hay bộ tiêu chí kỹ thuật có nguồn gốc từ bên ngoài, mà cần được nhìn nhận như một tư duy quản trị mới, một công cụ quan trọng để hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại.
Điều cốt lõi không phải là việc áp dụng ESG cho đủ hình thức hay theo trào lưu, mà là chuyển hóa ESG thành hành động cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, gắn với năng lực triển khai của từng ngành, từng địa phương, từng doanh nghiệp. Khi được nội địa hóa đúng hướng, ESG sẽ không chỉ là yêu cầu hội nhập, mà còn trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững và bao trùm.
Theo ông Tiến, việc triển khai ESG tại Việt Nam hiện nay vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức. Thể chế phát triển bền vững ở nước ta tuy đã từng bước được xây dựng nhưng nhìn chung chưa hoàn thiện, còn nhiều vướng mắc. Hệ thống chuẩn mực quốc tế chưa hoàn toàn tương thích với đặc điểm của nền kinh tế đang phát triển; năng lực dữ liệu, đo lường và kiểm chứng còn hạn chế; đặc biệt, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nếu không có lộ trình và cơ chế hỗ trợ phù hợp thì ESG có thể trở thành gánh nặng tuân thủ, thậm chí làm gia tăng nguy cơ hình thức hóa, “tô xanh”, đi ngược lại mục tiêu phát triển bền vững mà Đảng ta đã xác định.
Chính vì vậy, việc nội địa hóa ESG phải được đặt trong tổng thể các chủ trương lớn của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Ông Tiến phân tích, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy tín dụng xanh và khuyến khích doanh nghiệp triển khai các dự án xanh, tuần hoàn, từng bước áp dụng các tiêu chuẩn ESG. Vì vậy, việc hiểu đúng, triển khai hiệu quả và đánh giá ESG theo các tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện Việt Nam trở nên hết sức cấp thiết.
"Dù ESG đã được thể chế hóa ở một số nội dung, nhưng để ESG thực sự đi vào đời sống kinh tế và trở thành một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, rất cần sự chung tay, đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà khoa học và đội ngũ quản lý" - ông Tiến nhấn mạnh.
 |
| PGS.TS. Phan Chí Anh, Viện trưởng Viện Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội |
ESG dễ bị biến thành công cụ hình thức
Dưới góc độ nhà nghiên cứu khoa học, PGS.TS. Phan Chí Anh, Viện trưởng Viện Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội phân tích, mô hình ESG (Environmental – Social – Governance / Môi trường – Xã hội – Quản trị) ra đời trong bối cảnh cộng đồng quốc tế ngày càng quan tâm đến phát triển bền vững, đặc biệt là sau các sáng kiến của Liên Hợp Quốc như UN Global Compact và Principles for Responsible Investment (PRI) từ đầu những năm 2000. ESG dần trở thành một khung đánh giá quan trọng để đo lường mức độ bền vững và trách nhiệm của doanh nghiệp bên cạnh các chỉ tiêu tài chính truyền thống.
Tại Việt Nam, ESG xuất hiện từ đầu những năm 2000 thông qua quá trình hội nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Giai đoạn đầu, các yếu tố ESG được tiếp cận rời rạc dưới hình thức trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật lao động. Chỉ từ khoảng sau năm 2018, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tham gia sâu hơn vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và chuỗi cung ứng toàn cầu, ESG mới bắt đầu được nhìn nhận như một mô hình quản trị tổng hợp của doanh nghiệp.
Quá trình áp dụng ESG tại Việt Nam chịu tác động mạnh từ các yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức tài chính quốc tế và thị trường xuất khẩu, nhất là các quy định liên quan đến môi trường, phát thải carbon, điều kiện lao động và minh bạch quản trị. Một số doanh nghiệp lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, năng lượng, bất động sản và sản xuất xuất khẩu, đã từng bước xây dựng báo cáo ESG hoặc tích hợp ESG vào chiến lược phát triển.
Tuy nhiên, PGS.TS. Phan Chí Anh cho rằng, việc áp dụng ESG tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tương đối sơ khai, đối mặt với nhiều thách thức như thiếu dữ liệu chuẩn hóa, hạn chế về nguồn lực và khung pháp lý chưa hoàn thiện. Do đó, ESG ở Việt Nam hiện nay vừa là xu hướng tất yếu của hội nhập, vừa là quá trình thử nghiệm và điều chỉnh để phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong nước.
Việc áp dụng tiêu chuẩn ESG và thực hiện công bố báo cáo ESG giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nhiều thị trường lớn (EU, Mỹ, Nhật Bản) gắn ESG với chuỗi cung ứng, như CBAM (thuế carbon) và các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, lao động, môi trường. Doanh nghiệp áp dụng ESG dễ tiếp cận FDI chất lượng cao và có cơ hội tiếp cận tài chính xanh, trái phiếu xanh. Như vậy, có thể nói ESG có tính thực tiễn cao, không chỉ là “đạo đức kinh doanh” mà đã trở thành điều kiện cạnh tranh, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường và thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả dài hạn.
Phần lớn các tiêu chuẩn ESG được xây dựng cho doanh nghiệp lớn, hoạt động tại các nền kinh tế phát triển, nơi có đầy đủ hạ tầng và nền tảng pháp lý. Trong khi đó, khoảng 95% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, với nguồn lực tài chính, công nghệ và nhân sự hạn chế. Hệ quả là ESG dễ trở thành “chuẩn nhập khẩu”, được áp dụng mang tính hình thức, không phản ánh đúng mức độ bền vững thực chất.
Theo PGS.TS. Phan Chí Anh, ESG dễ bị biến thành công cụ hình thức. Doanh nghiệp có thể công bố báo cáo ESG rất đẹp nhưng không thay đổi mô hình kinh doanh theo hướng bền vững. Nhiều doanh nghiệp lựa chọn các chỉ số dễ báo cáo, bỏ qua các vấn đề cốt lõi như ô nhiễm hay điều kiện lao động. Đặc biệt, khi thiếu kiểm toán và dữ liệu độc lập, ESG có thể trở thành công cụ marketing thay vì công cụ quản trị, dẫn đến cung cấp tín hiệu sai lệch và các quyết định quản trị, đầu tư không chính xác.
“Các tiêu chuẩn ESG hiện hành có tiềm năng giúp doanh nghiệp Việt Nam hướng tới sản xuất – kinh doanh bền vững, nhưng chưa đủ điều kiện để phát huy hiệu quả tối ưu nếu không được nội địa hóa, đơn giản hóa và có sự hỗ trợ thể chế phù hợp”, PGS.TS. Phan Chí Anh nhấn mạnh.
 |
| Ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Khoa học Công nghệ và Chuyển đổi số UBTW MTTQ Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam |
Giải pháp nội địa hóa ESG
Theo ông Nguyễn Quang Huân, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Khoa học Công nghệ và Chuyển đổi số UBTW MTTQ Việt Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam, phát triển bền vững phải dựa trên sự liên kết chặt chẽ giữa kinh tế – xã hội – môi trường, tạo thành một hệ thống thống nhất. Doanh nghiệp thực hiện tốt phát triển bền vững thường giảm rủi ro, giảm chi phí vốn, hoạt động hiệu quả hơn trong dài hạn và nâng cao khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
"Phát triển bền vững không làm doanh nghiệp giảm hiệu quả, mà giúp tạo ra giá trị dài hạn. Đồng thời, thay đổi hành vi tiêu dùng theo hướng bền vững, tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng và các bên liên quan; thúc đẩy vai trò của các thiết chế xã hội và hội nghề nghiệp, tạo áp lực tích cực và dài hạn lên doanh nghiệp và Nhà nước" - ông Huân nhấn mạnh.
Để phát triển bền vững đi vào thực tế, ông Huân cho rằng, vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật, đưa phát triển bền vững vào chiến lược và chính sách công, tạo động lực thị trường cho các hành vi bền vững, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình. Khi đó, chính sách và thị trường sẽ cùng định hướng các chủ thể kinh tế theo các lựa chọn dài hạn.
Với doanh nghiệp nên chuyển đổi cách làm từ CSR sang mô hình kinh doanh bền vững, tích hợp bền vững vào chiến lược, vận hành và quản trị và quản trị rủi ro và tạo giá trị dài hạn thông qua ESG, đầu tư vào dữ liệu, đo lường và minh bạch. Phát triển bền vững là quá trình tái cấu trúc mô hình kinh doanh và quản trị, trong đó ESG đóng vai trò là công cụ trung tâm để chuyển hóa các mục tiêu dài hạn thành giá trị kinh tế – xã hội cụ thể.
Ông Huân phân tích, thực tế tại Việt Nam cho thấy từ sau năm 2018, ESG được nhắc đến nhiều hơn do yêu cầu của nhà đầu tư, chuỗi cung ứng xuất khẩu và chính sách tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, ESG vẫn chưa được tích hợp một cách hệ thống vào chiến lược, vận hành và quản trị.
Bên cạnh đó, ESG còn tồn tại nhiều hạn chế về thể chế chính sách, khung quy định còn phân mảnh, thiếu chuẩn công bố rủi ro khí hậu (TCFD). Báo cáo ESG đa khung, thiếu hội tụ, khó so sánh và kiểm chứng dữ liệu. Đối với doanh nghiệp, ESG còn thiên về hình thức, chưa gắn với chiến lược, thiếu dữ liệu và KPI.
Vì vậy, ông Huân đề xuất cần hoàn thiện khung ESG nội địa theo hướng hội tụ chuẩn quốc tế, có hướng dẫn ESG theo từng ngành, khuyến khích vốn dài hạn và vốn xanh, tăng vai trò điều phối của Nhà nước, coi ESG là một mô hình quản trị thực chất, đầu tư nghiêm túc vào dữ liệu và đo lường, đồng thời gắn ESG với hiệu quả đa chiều.
“Phát triển bền vững là xu hướng tất yếu. Doanh nghiệp là chủ thể trung tâm của quá trình này. ESG là công cụ quản trị hóa phát triển bền vững, phục vụ quản trị rủi ro và giá trị dài hạn. Hiệu quả của ESG phụ thuộc vào bối cảnh, mức độ tích hợp, đặc thù ngành và thể chế. Với Việt Nam, ESG cần được nội địa hóa, kết hợp giữa chuẩn mực quốc tế và năng lực trong nước”, ông Huân nhấn mạnh.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến đại biểu cho rằng, ESG có thể trở thành đòn bẩy nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng cũng có thể trở thành gánh nặng tuân thủ nếu bị áp dụng máy móc hoặc chạy theo báo cáo hình thức.
Theo Đại biểu nhân dân