(Mặt trận) - Hiện nay, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là phương thức mới để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật, mà còn là đòi hỏi về cách thức tổ chức, triển khai công việc mới, hiệu quả, khoa học, hiện đại hơn.
 |
| Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chủ trì Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. Ảnh TTXVN |
Yêu cầu chuyển đổi số đối với công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” là quyết sách có ý nghĩa chiến lược, thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong việc thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Trong bài viết “Rạng rỡ Việt Nam”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Việc ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào công tác xây dựng Đảng không chỉ là yêu cầu cấp thiết, mà còn là một bước đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới”. Thời gian qua, hệ thống cơ quan thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã có nhiều nỗ lực triển khai chuyển đổi số, bước đầu hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu ngành, ứng dụng phần mềm quản lý cán bộ, đảng viên, vận hành hệ thống điều hành tác nghiệp, ứng dụng sổ tay đảng viên điện tử, thẻ đảng viên gắn chip... Trong bối cảnh chung, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện thực trạng, xác định yêu cầu và đề xuất nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số đối với công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đây không chỉ là vấn đề quản lý, mà là nhiệm vụ chính trị quan trọng để công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, bảo đảm hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo toàn diện của Đảng trong giai đoạn mới; phát huy sự chủ động, sáng tạo của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với tiến trình chuyển đổi số quốc gia, mang tính đặc thù của hệ thống chính trị. Theo đó, yêu cầu chung đặt ra cho ngành thể hiện ở các vấn đề then chốt, như: thể chế, dữ liệu, nhân lực, tài chính và hạ tầng công nghệ.
Trước hết, về thể chế, cần xây dựng khuôn khổ pháp lý thống nhất cho toàn ngành, bảo đảm mọi hoạt động ứng dụng công nghệ, quản lý dữ liệu và khai thác thông tin đều có cơ sở chính trị, pháp lý rõ ràng. Thể chế chuyển đổi số phải hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đồng thời gắn chặt với cải cách hành chính trong Đảng, tránh tình trạng số hóa hình thức, cục bộ.
Về dữ liệu, yêu cầu trọng tâm là xây dựng và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung” từ Trung ương đến cơ sở, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Dữ liệu phải được coi là “nguồn tài nguyên chiến lược” của Đảng, được quản lý, khai thác và bảo mật theo nguyên tắc chính xác, kịp thời, an toàn và có kiểm soát.
Về nhân lực, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy đổi mới, có năng lực công nghệ số, đáp ứng yêu cầu “vừa hồng, vừa chuyên”. Chuẩn hóa tiêu chuẩn năng lực số cho từng vị trí việc làm, coi năng lực số là tiêu chí bắt buộc trong các khâu của công tác cán bộ, như tuyển dụng, quy hoạch, đánh giá, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ... Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng theo hướng kết hợp giữa bồi dưỡng chính trị, tư tưởng với huấn luyện kỹ năng công nghệ, phân tích dữ liệu, bảo mật thông tin. Xây dựng cơ chế khuyến khích cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực đổi mới sáng tạo, am hiểu khoa học, công nghệ làm công tác tổ chức, cán bộ.
Về tài chính, cần đề ra cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính một cách linh hoạt, hiệu quả, ưu tiên dự án trọng điểm về hạ tầng số, an ninh mạng và đào tạo cán bộ. Đầu tư cho chuyển đổi số đối với công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị không chỉ là chi phí công nghệ, mà phải được xem là đầu tư cho việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Về hạ tầng công nghệ, cần phát triển hệ thống công nghệ thông tin đồng bộ, an toàn và có khả năng mở rộng, bảo đảm hoạt động thông suốt của nền tảng số. Việc phát triển hạ tầng phải gắn liền với chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, điện tử hóa công tác quản lý, góp phần cho nền hành chính Đảng hiện đại, hiệu quả, minh bạch.
Qua kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong tiến trình chuyển đổi số khu vực công, thành công phụ thuộc vào sự phối hợp đồng bộ giữa thể chế, công nghệ và con người. Nhiều quốc gia đạt hiệu quả cao trong chuyển đổi số hành chính công, như Xin-ga-po, Hàn Quốc hay Ma-lai-xi-a đều đặt trọng tâm vào ba yếu tố nền tảng là thể chế linh hoạt, dữ liệu mở và nhân lực số chất lượng cao. Điều này có ý nghĩa gợi mở quan trọng, trong đó có việc chuyển đổi số công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị bảo đảm đồng bộ, an toàn, hiệu quả và bền vững.
Trước hết, do đặc thù, công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào công tác tổ chức cán bộ, nâng cao hiệu quả quản lý nhân sự trong khu vực công, tổ chức đảng, đảng viên, cải cách hành chính. “Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo sẽ góp phần hiện đại hóa công tác quản lý đảng viên, điều hành tổ chức đảng. Việc xây dựng hệ thống quản lý đảng viên trên nền tảng số giúp tăng cường tính minh bạch, chính xác và hiệu quả trong quản lý hồ sơ, quá trình công tác, đánh giá, phân loại đảng viên”(1). Do đó, ngành cần chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong tất cả khâu của quy trình tổ chức, cán bộ. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data) và phân tích dự báo sẽ giúp nâng cao độ chính xác, khách quan và khoa học trong tham mưu nhân sự, giảm yếu tố cảm tính, tăng năng lực dự báo chiến lược.
Thứ hai, tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trên cơ sở dữ liệu số. Công tác đánh giá, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ cần dựa trên cơ sở dữ liệu số hóa, được cập nhật thường xuyên, bảo đảm tiêu chí công bằng, dân chủ, minh bạch.
Thứ ba, tạo môi trường minh bạch, hiện đại, linh hoạt, thu hút nhân tài và tăng cường trách nhiệm giải trình. Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cần từng bước công khai hóa quy trình, tiêu chí đánh giá, bổ nhiệm, quy hoạch cán bộ trên nền tảng số, bảo đảm mọi bước đều có thể truy xuất và kiểm chứng. Xây dựng văn hóa số trong cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, đề cao tinh thần đổi mới sáng tạo, khuyến khích cán bộ phản hồi, đóng góp ý kiến cho tổ chức, cá nhân. Có cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ trẻ có năng lực công nghệ tham gia nghiên cứu, phát triển giải pháp quản trị số. Từng bước hình thành hệ sinh thái nhân tài của Đảng. Môi trường số minh bạch sẽ là công cụ hữu hiệu để phòng, chống tiêu cực, “chạy chức, chạy quyền” trong công tác tổ chức - cán bộ, góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng.
 |
| Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đến kiểm tra tình hình hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hoá_Ảnh: TTXVN |
Tình hình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị
Hệ thống cơ quan thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đã tập trung quán triệt, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình. Đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng khi toàn Đảng vừa bước vào thời kỳ chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đồng thời triển khai tổng kết, hoàn thiện thể chế, bộ máy, cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 21-NQ/TW và Kết luận số 21-KL/TW của Trung ương.
Về tổ chức bộ máy và biên chế
Ban Tổ chức Trung ương đã chủ trì, tham mưu với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành nhiều văn bản quan trọng về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế; tiếp tục hoàn thiện Kết luận tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, giảm cấp hành chính trung gian, hình thành mô hình chính quyền địa phương hai cấp tinh gọn, hiệu quả, liên thông trong hệ thống chính trị. Công tác quản lý biên chế khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm chỉ tiêu tinh giản biên chế, đồng thời chuẩn bị Đề án xác định vị trí việc làm đến năm 2031 làm căn cứ cho việc phân bổ, điều chỉnh nguồn lực nhân sự. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, với một khối lượng công việc rất lớn, Ban Tổ chức Trung ương tiếp tục triển khai cơ sở dữ liệu tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức, tổ chức đảng, đảng viên của toàn hệ thống chính trị. Ban tổ chức cấp ủy các cấp đã số hóa quy trình báo cáo thống kê, thay thế dần hình thức thủ công, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu quản lý tổ chức bộ máy toàn ngành.
Về công tác cán bộ
Trong 6 tháng đầu năm 2025, Ban Tổ chức Trung ương đã tham mưu với Bộ Chính trị, Ban Bí thư hàng trăm lượt nhân sự phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng; đồng thời hướng dẫn, đôn đốc cấp ủy các cấp thực hiện công tác quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ gắn với việc sắp xếp tổ chức bộ máy. Ngành đã đẩy mạnh số hóa hồ sơ cán bộ, tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành “hồ sơ cán bộ số” trong tương lai. Công tác đánh giá cán bộ được đổi mới theo hướng định lượng, kết hợp tiêu chí hiệu suất công việc và phẩm chất chính trị, đạo đức. Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành quy chế làm việc mới, ứng dụng phần mềm đánh giá kết quả công tác hằng tuần của cán bộ, công chức; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, gắn thi đua, khen thưởng với mức độ hoàn thành nhiệm vụ và sáng kiến công tác. Ban tổ chức cấp ủy tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đạo đức công vụ, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu trong chuyển đổi số. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức các khóa đào tạo cán bộ nguồn Trung ương khóa XIV, các lớp bồi dưỡng kỹ năng công nghệ, chuyển đổi số cho cán bộ tổ chức, áp dụng mô hình học tập kết hợp (blended learning). Đồng thời, nhiều địa phương đã tổ chức tập huấn kỹ năng sử dụng hệ thống quản lý đảng viên điện tử, phần mềm điều hành tác nghiệp, góp phần thay đổi thói quen làm việc của cán bộ theo hướng chuyên nghiệp, công nghệ, hiện đại hơn.
Về phát triển tổ chức đảng, đảng viên
Thực hiện chủ trương của Ban Bí thư về nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong bối cảnh mới, toàn ngành đã đẩy mạnh đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác quản lý đảng viên. Ban Tổ chức Trung ương đã triển khai ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử, chủ trì ban hành Quy định về mã số tổ chức đảng trong hệ thống chính trị(2); đồng thời, chỉ đạo nghiên cứu đổi thẻ đảng viên, cấp mới thẻ đảng viên gắn chip có mã QR bảo mật, bước đầu xây dựng nền tảng định danh điện tử đảng viên. Nhiều địa phương đã thí điểm sinh hoạt đảng trực tuyến ở đảng bộ cơ sở, chi bộ có tính chất đặc thù hoặc trong hoàn cảnh đặc biệt và sinh hoạt đảng theo tổ đảng ở chi bộ đông đảng viên theo Hướng dẫn số 03-HD/TW, ngày 27-12-2022, của Ban Bí thư.
Về chuyển đổi số trong nội bộ ngành
Ban Tổ chức Trung ương đã hướng dẫn cụ thể việc kiện toàn, bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn, khoa học, công nghệ tham gia cấp ủy các cấp(3); xác định tiêu chí cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ để các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện(4). Tích cực nghiên cứu, xây dựng, báo cáo Ban Bí thư để ban hành Quy định về sử dụng ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử; hướng dẫn địa phương triển khai một số thủ tục hành chính trong Đảng trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Phối hợp xây dựng quy định về mức hỗ trợ đối với người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng. Gương mẫu, chủ động triển khai thực hiện chuyển đổi số trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ được giao, bảo đảm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác(5). Ban hành Quyết định tái cấu trúc 16 quy trình lõi của công tác tổ chức xây dựng Đảng trên môi trường số.
Triển khai Phòng họp không giấy phục vụ cuộc họp (không Mật) tại Ban từ tháng 4-2025; cơ sở dữ liệu văn bản của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng (tài liệu không Mật) trên internet thực hiện từ tháng 5-2025; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện một số phần mềm phục vụ đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIV của Đảng(6). Ban tổ chức cấp ủy các cấp tập trung đổi mới phương pháp làm việc gắn với đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin(7) trong quản lý, điều hành, giải quyết công việc theo tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án Chuyển đổi số trong cơ quan giai đoạn 2025 - 2028; triển khai ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử, ứng dụng hệ thống điều hành tác nghiệp mới, phòng họp không giấy, tập huấn bồi dưỡng cho cán bộ, công chức về kiến thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; thực hiện chỉnh lý, số hóa tài liệu đưa vào lưu trữ phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ.
Thành công bước đầu, khó khăn, hạn chế và thách thức đặt ra
Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp lãnh đạo; đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai chủ trương về đổi mới, hiện đại hóa công tác tổ chức, cán bộ. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ của ngành cơ bản có bản lĩnh chính trị vững vàng, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, am hiểu sâu về hệ thống tổ chức và công tác nhân sự trong Đảng, có tinh thần cầu thị, tiếp cận đổi mới, sẵn sàng thay đổi phương thức làm việc. Đây là nền tảng nhân lực quan trọng để thích ứng dần với yêu cầu chuyển đổi số. Thời gian qua, Ban Tổ chức Trung ương đã chủ động, tiên phong và là một trong những cơ quan Đảng ở Trung ương đi đầu về ứng dụng công nghệ thông tin, thể hiện rõ năng lực thích ứng và tinh thần đổi mới của ngành trong tiến trình chuyển đổi số. Bên cạnh đó, ngành đã xây dựng nền nếp làm việc kỷ luật, chặt chẽ, thận trọng, gắn đổi mới quy trình nghiệp vụ với bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn an ninh thông tin, yêu cầu bảo mật thông tin chính trị nội bộ - yếu tố đặc thù trong hệ thống công tác tổ chức của Đảng.
Tuy đạt nhiều kết quả tích cực, nhưng chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vẫn đang ở giai đoạn đầu, còn nhiều hạn chế. Trước hết, năng lực số của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, đặc biệt là kỹ năng khai thác, xử lý dữ liệu lớn và sử dụng công cụ công nghệ phục vụ tham mưu, quản lý, điều hành. Một bộ phận cán bộ vẫn giữ thói quen xử lý công việc theo phương thức truyền thống, chưa thực sự hình thành “kỹ năng số”, “văn hóa số” trong công tác. Thứ hai, hạ tầng công nghệ thông tin của ngành chưa đồng bộ, giữa Trung ương và địa phương còn tồn tại khoảng cách. Một số địa phương chưa có trung tâm dữ liệu riêng, kết nối mạng nội bộ còn yếu, thiếu nhân lực kỹ thuật duy trì hệ thống. Thứ ba, cơ sở dữ liệu ngành chưa liên thông hoàn toàn, còn phân tán theo cấp, chưa hình thành kho dữ liệu tập trung thống nhất; chưa có cơ chế rõ ràng về chia sẻ, bảo mật, khai thác thông tin giữa đơn vị, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Thứ tư, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực số được chú trọng, nhưng vẫn thiếu chương trình chuyên sâu và dài hạn; chính sách thu hút và khuyến khích nhân tài công nghệ tham gia công tác tổ chức, cán bộ còn thiếu cụ thể, chưa tạo hấp dẫn đội ngũ có trình độ công nghệ cao; cơ chế, chính sách khuyến khích đổi mới sáng tạo chưa đủ mạnh...
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị mở ra nhiều cơ hội mang tính đột phá cho công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Công tác quan trọng này được thừa hưởng thành quả từ hệ thống dữ liệu quốc gia, như cơ sở dữ liệu về dân cư, cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên... Đây là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông, phục vụ các khâu trong công tác cán bộ, như quy hoạch, đánh giá, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ dựa trên dữ liệu số. Trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây (Cloud Computing), phân tích dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (blockchain),... mở ra khả năng đổi mới toàn diện quy trình công tác tổ chức - cán bộ, từ đánh giá năng lực, dự báo nhân sự đến bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên. Đặc biệt, xu hướng cải cách hành chính trong Đảng và yêu cầu tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, tạo động lực mạnh mẽ để ngành chuyển đổi phương thức làm việc, giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu suất.
Song song với cơ hội mới, ngành cũng đối mặt với nhiều thách thức trong tiến trình chuyển đổi số. Trước hết, tốc độ phát triển công nghệ nhanh hơn khả năng thích ứng của hệ thống tổ chức và con người. Trong khi yêu cầu về an toàn, an ninh dữ liệu, bảo mật thông tin chính trị nội bộ ngày càng cao, việc triển khai công nghệ mới yêu cầu bảo đảm an toàn tuyệt đối, tránh rủi ro rò rỉ dữ liệu. Thứ hai, nguy cơ “bất bình đẳng số” giữa cấp ủy, địa phương vẫn còn; một số nơi triển khai nhanh, có kết quả rõ, trong khi nơi khác còn lúng túng, thiếu nguồn lực, dẫn đến khoảng cách trong năng lực tham mưu, quản lý. Thứ ba, nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số còn phân tán, thiếu ổn định, trong khi nhu cầu về hạ tầng công nghệ, đào tạo nhân lực, bảo mật dữ liệu đều đòi hỏi kinh phí lớn và duy trì thường xuyên. Thứ tư, áp lực về tiến độ, khối lượng công việc lớn trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng khiến nhiều nhiệm vụ chuyển đổi số phải triển khai song song với công việc chuyên môn, dễ dẫn đến quá tải, ảnh hưởng chất lượng. Cuối cùng, thách thức về nhận thức vẫn là rào cản quan trọng. Nếu cấp ủy, lãnh đạo, cán bộ, đảng viên chưa coi chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu, chưa gắn kết với nhiệm vụ chính trị thường xuyên thì quá trình chuyển đổi sẽ thiếu bền vững.
 |
| Cán bộ công an xã đến tận hộ gia đình tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử_Ảnh: TTXVN |
Một số nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới
Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện, bảo đảm công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thực sự là một trong những đơn vị tiên phong trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau cần được cân nhắc triển khai đồng bộ:
Một là, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo các cấp về chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Chuyển đổi số trước hết là một cuộc cách mạng về nhận thức và tư duy lãnh đạo, không chỉ là việc thay đổi công nghệ. Nhận thức đúng sẽ dẫn đến hành động đúng. Cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức triển khai công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cần nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa chiến lược của chuyển đổi số đối với việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, coi đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên, gắn chặt với quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách, quy định của Đảng về chuyển đổi số, nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW và đề án, kế hoạch cụ thể của Ban Tổ chức Trung ương, qua đó tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên toàn ngành. Đồng thời, đưa nội dung chuyển đổi số vào tiêu chí thi đua, đánh giá, khen thưởng hằng năm của đơn vị gắn với trách nhiệm người đứng đầu; phát huy vai trò nêu gương, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, chuẩn hóa quy định, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ của công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị theo hướng số hóa quy trình nghiệp vụ. Trong đó, tập trung ban hành quy định thống nhất về quản lý, khai thác, chia sẻ và bảo mật dữ liệu trong hệ thống cơ quan, tổ chức đảng; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, xếp loại mức độ chuyển đổi số của ban tổ chức cấp ủy các cấp; hoàn thiện quy định công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ, chữ ký, văn bản điện tử. Việc hoàn thiện thể chế phải gắn chặt với cải cách hành chính trong Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm “ít tầng nấc hơn, thủ tục nhanh hơn, quyết định chính xác hơn”, góp phần hình thành hoạt động hành chính trong cơ quan, tổ chức đảng và hệ thống chính trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả.
Ba là, xây dựng nền tảng công nghệ và cơ sở dữ liệu đồng bộ, an toàn, thông minh phục vụ công tác tổ chức - cán bộ. Cần tập trung phát triển hạ tầng công nghệ hiện đại, đồng bộ, liên thông giữa Trung ương và địa phương, đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý, phân tích và bảo vệ dữ liệu chính trị nội bộ. Trong đó, ưu tiên hoàn thiện và mở rộng Cơ sở dữ liệu văn bản Ngành Tổ chức xây dựng Đảng, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Song song, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data), điện toán đám mây (Cloud Computing) trong khâu quy hoạch, đánh giá, dự báo cán bộ; triển khai phần mềm quản lý hồ sơ cán bộ điện tử thống nhất toàn quốc, bảo đảm mỗi cán bộ, đảng viên có “hồ sơ số” gắn với mã định danh duy nhất. Công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin chính trị nội bộ phải được coi là yêu cầu xuyên suốt, có quy định rõ ràng về phân quyền, kiểm soát truy cập và lưu trữ dữ liệu. Bảo đảm trung tâm dữ liệu của ngành, hệ thống sao lưu, khôi phục dữ liệu hoạt động thông suốt, an toàn trước mọi tình huống. Bên cạnh đó, cần xây dựng chiến lược tài chính số của công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị theo hướng tập trung, có trọng điểm và bền vững. Ưu tiên bố trí ngân sách cho dự án trọng điểm (hạ tầng dữ liệu, đào tạo nhân lực số, an ninh mạng), đồng thời huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức quốc tế thông qua hợp tác nghiên cứu và phát triển (R&D), bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn an ninh thông tin, yêu cầu bảo mật thông tin chính trị nội bộ.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực số, xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”(8). Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay rất chú trọng yếu tố “Đức - Sức - Tài””. Nhân lực chất lượng cao chính là “động cơ” để vận hành bộ máy tổ chức Đảng trong môi trường số, giúp chủ trương, nghị quyết được triển khai nhanh, hiệu quả và thực chất. Do đó, phát triển nhân lực số phải được xem là nhiệm vụ trung tâm của ngành trong giai đoạn hiện nay. Cần xây dựng khung năng lực số cho cán bộ thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, trong đó năng lực số là tiêu chí bắt buộc khi đánh giá, bổ nhiệm, quy hoạch cán bộ. Tổ chức khóa bồi dưỡng kỹ năng công nghệ, phân tích dữ liệu, bảo mật thông tin, kết hợp đào tạo lý luận chính trị với đào tạo kỹ năng số. Khuyến khích cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực đổi mới sáng tạo tham gia lĩnh vực tổ chức - cán bộ, mạnh dạn đề xuất sáng kiến, mô hình chuyển đổi số mới. Thực hiện cơ chế luân chuyển, sử dụng, đãi ngộ linh hoạt, tạo động lực cống hiến, phát triển đội ngũ cán bộ.
Năm là, tinh gọn tổ chức bộ máy, tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành. Chuyển đổi số phải gắn liền với tinh gọn tổ chức và tối ưu hóa quy trình công tác, coi đây là phương tiện để giảm tải hành chính, tăng cường năng lực tham mưu chiến lược. Cần rà soát, sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm trong toàn ngành theo hướng tinh giản, tránh chồng chéo; đồng thời, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ trên nền tảng số, tiến tới mô hình “một quy trình điện tử - một lần nhập dữ liệu - sử dụng nhiều lần”. Ứng dụng công nghệ tự động hóa (RPA) và hệ thống quản lý thông minh sẽ giúp giảm thời gian xử lý hồ sơ, tăng độ chính xác, tạo điều kiện để cán bộ tập trung cho công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách. Việc vận hành bộ máy tinh gọn, hiện đại hóa sẽ góp phần nâng cao hiệu lực quản trị, hiệu quả phục vụ và uy tín của cơ quan, tổ chức về công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong toàn hệ thống chính trị.
Sáu là, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và xây dựng văn hóa số trong Đảng và hệ thống chính trị. Thiết lập cơ chế công khai hóa quy trình, tiêu chí quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ trên nền tảng số, cho phép theo dõi, giám sát, truy xuất thông tin theo thẩm quyền. Đồng thời, cần hình thành “văn hóa số trong Đảng” - đề cao kỷ luật, trách nhiệm, tính chuẩn xác, khách quan và tinh thần phục vụ. Cấp ủy, tổ chức đảng phải gương mẫu trong sử dụng công nghệ, dữ liệu, nói đi đôi với làm, tránh hình thức, đối phó. Cùng với đó, phát huy vai trò của kiểm tra, giám sát, phản biện nội bộ để bảo đảm chuyển đổi số thực chất, gắn chặt với mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị bắt đầu có bước tiến vững chắc. Trong tiến trình đó, sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm chính là trụ cột của quá trình chuyển đổi số trong công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, tạo nên một chu trình khép kín, lô-gic và bền vững: Nhận thức là tiền đề - Thể chế là khung khổ - Công nghệ là công cụ - Nhân lực là trung tâm - Tổ chức bộ máy là cấu trúc thực thi - Minh bạch và văn hóa số là nền tảng bền vững. Với quyết tâm chính trị cao, sự thống nhất trong nhận thức và hành động, sự dẫn dắt của thể chế và trí tuệ con người, công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị sẽ là một trong những điểm sáng của chuyển đổi số, nơi mà dữ liệu trở thành tri thức, là tài nguyên, mỗi cán bộ trở thành hạt nhân sáng tạo và mỗi bước đổi mới trở thành động lực cho sự phát triển bền vững của Đảng và dân tộc./.
TS PHAN THĂNG AN
Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng
------------
(1) Xem: GS. TS. Tô Lâm: “Rạng rỡ Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 1055 (2-2025), tr. 10
(2) Quy định số 208-QĐ/BTCTW, ngày 25-6-2025, của Ban Tổ chức Trung ương, về mã số tổ chức đảng trong hệ thống chính trị
(3) Tham mưu ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 14-4-2025, của Bộ Chính trị, về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Cấp ủy và người đứng đầu các cấp có thẩm quyền chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, đề bạt, bố trí cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ có trình độ khoa học, công nghệ vào các chức danh có cơ cấu tham gia cấp ủy khóa mới theo quy định
(4) Công văn số 8548-CV/BTCTW, ngày 19-5-2025, của Ban Tổ chức Trung ương
(5) Ban hành Kế hoạch số 246-KH/BTCTW, ngày 21-4-2025, của Ban Tổ chức Trung ương, triển khai thực hiện Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng tại Ban giai đoạn 2025 - 2028; Thông báo số 628-TB/BTCTW, ngày 17-3-2025, của Ban Tổ chức Trung ương, về việc thực hiện Đề án Chuyển đổi số tại Ban; Quyết định số 3655-QĐ/BTCTW, ngày 19-3-2025, của Ban Tổ chức Trung ương, thành lập Tổ Công tác chuyển đổi số của Ban Tổ chức Trung ương; Thông báo số 01-TB/TCTCĐS, ngày 21-3-2025, của Tổ Công tác chuyển đổi số của Ban Tổ chức Trung ương, phân công nhiệm vụ các thành viên Tổ Công tác chuyển đổi số của Ban Tổ chức Trung ương
(6) Nâng cấp, chỉnh sửa Bộ Chương trình phần mềm quản lý hồ sơ đại biểu dự đại hội đảng bộ các cấp; nâng cấp, hiệu chỉnh phần mềm tổng hợp kết quả ứng cử, đề cử tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; nâng cấp, hiệu chỉnh phần mềm tổng hợp kết quả giới thiệu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV
(7) Hà Nội, Cần Thơ, Đắk Lắk, Cà Mau, Nghệ An, Trà Vinh, Phú Thọ, Thành phố Hồ Chí Minh, Yên Bái
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 309, 280
Theo Tạp chí Cộng sản